Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Y DƯỢC TRONG CUỘC SỐNG

Khi bạn đã đặt ra cho mình câu hỏi “Bị táo bón nên ăn gì” cũng có nghĩa là bạn đã biết rằng nguyên nhân gây ra táo bón xuất phát từ chính chế độ ăn uống hàng ngày của bạn.

Nói cách khác, táo bón xuất phát từ chính quá trình tiêu hóa thức ăn.

>>>Tự ý sử dụng thuốc:Hậu quả khôn lường
>>>Bổ xung canxi mà vẫn bị loãng xương
>>>Phụ nữ uống bia giảm nguy cơ loãng xương

Rau xanh và hoa quả đều là nguồn cung cấp dồi dào chất xơ 
Thật vậy!

Khi thức ăn di chuyển trong đường tiêu hóa, phần lớn thời gian chúng nằm trong đường ruột. Tại đây thức ăn được đường ruột hấp thụ nước và các chất dinh dưỡng để đưa vào cơ thể. Quá trình hấp thụ nước và chất dinh dưỡng xảy ra một cách liên tục. Do đó nước trong thức ăn sẽ bị lấy đi dần cùng với quá trình thức ăn di chuyển. Tốc độ di chuyển càng chậm thì thời gian thức ăn ở trong đường ruột càng kéo dài, chúng càng bị mất nhiều nước hơn, phân tạo thành sẽ càng trở nên khô và cứng hơn. Kết quả là táo bón.

Lượng nước còn lại trong chất thải sau quá trình tiêu hóa còn phụ thuộc vào lượng nước bạn uống. Nếu bạn uống thiếu nước, cơ thể thiếu nước sẽ tạo ra phản ứng hấp thụ nước từ thức ăn nhanh qua đường ruột dẫn tới thức ăn cũng sẽ mất càng nhiều nước hơn, phân tạo thành sẽ khô và cứng hơn.

Mặt khác, lượng nước giữ lại được trong thức ăn còn phụ thuộc vào loại thức ăn mà chúng ta ăn vào. Chất xơ trong thức ăn có khả năng hút nước, chương phồng lên,làm cho chúng giữ được nhiều nước hơn, phân tạo thành sẽ mềm hơn, xốp hơn, dễ dàng đẩy ra ngoài hơn.

Như vậy, tốc độ tiêu hóa thức ăn, lượng nước bạn uống vào và loại thức ăn bạn ăn vào là yếu tố quyết định tới tình tạng táo bón của bạn. Một cách chữa táo bón chỉ hiệu quả khi nó đi vào khắc phục những yếu tố này.

Vì vậy, bạn hãy lựa chọn các loại thức ăn có thể khắc phục được những yếu tố trên để thu được hiệu quả cải thiện táo bón tốt nhất.

Những nhóm thức ăn này bao gồm:

Các thức ăn chứa nhiều chất xơ

Như đã nói ở trên, chất xơ gồm hai loại là chất sơ hòa tan và chất xơ không hòa tan. Cả hai loại này đều có khả năng hấp thụ nước, và chương phồng lên, giúp cho thức ăn giữ được nhiều nước hơn sau khi đi qua hệ thống tiêu hóa, làm cho phân mềm hơn và dễ đưa ra ngoài hơn. Chính tác dụng này mà hầu hết các bác sỹ khuyến cáo bạn ăn nhiều các loại thức ăn giàu chất xơ.

ĐƠN GIẢN,HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH VIÊM HỌNG

Thời tiết thay đổi, uống nước đá nhiều hay bật điều hòa quá lạnh có thể khiến họng của bạn bị sưng và đau. Dưới đây là bí quyết trị viêm họng đơn giản nhưng cực kỳ hiệu quả.

>>>Không lạm dụng thuốc hạ sốt
>>>Vitamin A:Dinh dưỡng có thể thành chất độc
>>>Thói quen dùng băng vệ sinh dẫn đến viêm âm đạo

Có nhiều cách chữa viêm họng
Chữa trị viêm họng hiệu quả bằng muối

Bạn lấy muối rang khô, giã nhỏ, thổi vào trong họng, nhổ nước bọt ra, cảm giác đau sẽ hết, lại chữa được viêm.

Hoặc bạn ngửa đầu, há miệng và rắc một chút muối hạt trực tiếp lên phía sau cuống họng (cuống lưỡi) chứ đừng rắc lên phần giữa hay đầu lưỡi (làm như vậy mới không phải chịu đựng vị mặn tới mức khó chịu). Sau đó cứ để cho muối hòa tan tự nhiên vào nước miếng ở đó, càng lâu càng tốt – cố gắng đừng nuốt vội.
Nếu bạn sử dụng lọ muối để rắc, thì có thể rắc từ 2 đến 6 lần/ngày tùy theo mức độ đau họng, đau ít rắc 2 lần, nhiều hơn… thì rắc thêm vài lần.

Uống trà và mật ong: Trà và mật ong được xem như những loại “thảo dược” thần kỳ giúp bạn nhanh chóng trị dứt cảm giác đau họng. Bạn hãy cho 1 thìa mật ong khuấy đều trong chén trà và thêm nửa quả chanh vắt.

Chữa bằng giấm: Khi bị sưng, đau họng, bạn có thể pha giấm với nước theo tỉ lệ 1:1 để súc miệng, sẽ thấy đỡ đau hơn

Chữa bằng lê: Thường xuyên ăn lê sẽ có thể chống nhiệt miệng, đau họng.

Chữa bằng mướp: Bạn lấy quả mướp non, nghiền nát, lấy nước súc miệng thường xuyên.

Chữa bằng xì dầu: Khi bị đau họng, bạn có thể lấy một thìa canh xì dầu súc miệng, súc khoảng 1 phút thì nhổ ra, làm liên tục 2-3 lần sẽ thấy tác dụng.

Bột quế, hạt tiêu và mật ong: Dùng một thìa bột quế đun với 1 cốc nước, có thêm một chút hạt tiêu và 2 thìa mật ong sẽ giúp bạn nhanh chóng khắc phục được tình hình.

Nghệ: Nghệ cũng dùng để chữa ho. Lấy một nửa cốc nước nóng, thêm một ít muối vào, sau đó cho nửa thìa bột nghệ rồi khuấy đều và uống ngày một lần, liên tục trong 3 ngày. Cách này rất hiệu quả để bảo vệ họng khỏi bị viêm nhiễm.

Tránh xa khói thuốc lá: Thuốc lá có thể là thủ phạm khiến bạn bị đau họng và nó làm cho tình trạng càng trở nên xấu hơn. Vì thế, khi bị viêm họng, việc tránh xa khói thuốc lá càng là điều rất cần thiết.

Vỏ xoài và nước lọc: Bạn hãy pha 10ml nước vỏ xoài với 125ml nước lọc đun sôi để nguội và dùng để súc miệng hằng ngày.

Tuy nhiên, nếu đau họng kèm sốt, ho và các triệu chứng khác thì bạn nên tìm bác sĩ sớm để biết nguyên nhân gây sưng, đau hay viêm họng.

KHÔNG LẠM DỤNG THUỐC HẠ SỐT

“Trên thực tế, hầu hết các trường hợp nên để nguyên cơn sốt như vậy. Có một số bằng chứng cho thấy, hạ sốt còn cản trở sự phục hồi của người bệnh khi bị nhiễm trùng – nguyên nhân phổ biến của triệu chứng sốt cao”, bác sỹ Paul Young nói.

>>>Phụ nữ uống bia giảm nguy cơ loãng xương
>>>Thói quen xấu dễ khiến bạn loãng xương
>>>6 loại đồ uống nên tránh để phòng bệnh loãng xương

Ảnh minh họa
Gần đây, người ta thấy rằng mặt trái của việc điều trị sốt thể hiện ở một số khía cạnh sau: Làm tăng tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng ở động vật; Các triệu chứng sổ mũi khi trẻ bị cảm lạnh ngày càng tồi tệ hơn; Các mụn rộp ở trẻ bị bệnh thủy đậu lâu khỏi hơn; Phản ứng miễn dịch với trẻ sau khi tiêm phòng yếu hơn.

Một điều mà gần như ai cũng biết là triệu chứng sốt rất hữu ích trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm. Trước khi con người phát minh ra thuốc kháng sinh vào cuối thế kỷ 19, một biện pháp khá phổ biến trong điều trị bệnh thông thường là dựa theo các cơn sốt. Tuy nhiên, hiện nay mọi người quan tâm đến việc cắt cơn sốt nhiều hơn, đó là một trào lưu có vẻ như không dựa trên chứng cứ khoa học nào và nguyên do cũng vì các loại thuốc ngày càng đa dạng và dễ tiếp cận hơn.

Lý do mà chúng ta cố hạ sốt khi thấy thân nhiệt nóng lên là sợ nhiệt độ sẽ tiếp tục tăng, có thể tổn thương đến não và các cơ quan khác. Sự thật là nhiệt độ trên 41 độ C có thể nguy hiểm nhưng sốt cao như vậy thường chỉ xảy ra với các sự kiện như đột quỵ, khi cơ chế điều chỉnh thân nhiệt bị rối loạn.

Mặc dù sốt cao do nhiễm trùng có thể gây ra co giật hoặc lả đi đối với khoảng 5% trẻ em nhưng không có bằng chứng cho thấy hạ sốt làm giảm nguy cơ co giật do sốt. Cố hạ sốt nhanh trong trường hợp này thậm chí còn có thể gây ra một cơn động kinh, Giáo sư Dominic Fitzgerald, chuyên khoa hô hấp tại Bệnh viện Nhi Westmead tại Sydney, Australia cho biết.

VITAMIN A:DINH DƯỠNG CÓ THỂ THÀNH CHẤT ĐỘC

Vitamin A là dưỡng chất rất cần thiết cho cơ thể con người, thiếu hụt vitamin A có thể dẫn đến thị lực suy giảm, suy giảm miễn dịch, giảm chiều dày lớp vảy ở da, bệnh da gà… Tuy nhiên, quá thừa vitamin A, nó sẽ trở thành chất độc, gây hại cho cơ thể. 

>>>Thói quen dùng băng vệ sinh dẫn đến viêm âm đạo
>>>Tự ý sử dụng thuốc:Hậu quả khôn lường
>>>Bổ xung canxi mà vẫn bị loãng xương

Vitamin A
Nếu thiếu vitamin A sẽ gây khô da ở màng tiếp hợp, khi lan tới giác mạc thì làm khô giác mạc, nặng hơn sẽ làm thủng giác mạc và dẫn tới mù lòa. Thiếu vitamin A còn gây sừng hóa nang lông, bề mặt da thường nổi gai; Làm giảm tốc độ tăng trưởng, giảm sức đề kháng với bệnh tật.

Do vitamin A hòa tan trong chất béo, việc thải lượng dư thừa đã hấp thụ vào từ ăn uống khó hơn so với các vitamin hòa tan trong nước. Do vậy, quá liều có thể dẫn tới ngộ độc vitamin A. Nó có thể gây buồn nôn, vàng da, dị ứng, chứng biếng ăn, nôn, nhìn mờ, đau đầu, tổn thương cơ, uể oải và thay đổi tính tình.
Ngộ độc cấp tính nói chung xảy ra ở liều 25.000 IU/kg và ngộ độc kinh niên diễn ra ở 4.000 IU/kg mỗi ngày trong thời gian 6-15 tháng. Tuy nhiên, ngộ độc ở gan có thể diễn ra với các mức thấp tới 15.000 IU/ngày, với liều gây ngộ độc trung bình là 120.000 IU/ngày. Ở người có chức năng thận suy giảm thì 4.000 IU/kg mỗi ngày cũng có thể gây ra với các tổn thương đáng kể. Việc uống nhiều rượu cũng có thể làm gia tăng độc tính của vitamin A.

Chức năng cơ bản của vitamin A đối với cơ thể:

- Bảo vệ mắt

Giúp cho các tế bào trong một loạt cấu trúc của mắt luôn khỏe mạnh. Ngoài ra, nó còn rất quan trọng đối với sự biến đổi ánh sáng thành các tín hiệu thần kinh trong võng mạc, giúp võng mạc nhận biết được các hình ảnh khi thiếu ánh sáng. Nếu thiếu vitamin A, khả năng nhìn của mắt lúc ánh sáng yếu sẽ bị giảm. Hiện tượng này thường xuất hiện vào lúc trời nhá nhem tối, được gọi là chứng “quáng gà”.

- Đối với da

Vitamin A cần thiết cho sự bảo vệ toàn vẹn của biểu mô giác mạc và các tổ chức biểu mô dưới da, khí quản, các tuyến nước bọt, ruột non, tinh hoàn... Khi thiếu vitamin A, sự sản xuất các niêm dịch bị giảm, da bị khô và xuất hiện sừng hóa, biểu hiện này thường thấy ở mắt, lúc đầu là khô kết mạc rồi tổn thương đến giác mạc, nặng hơn sẽ làm thủng giác mạc và dẫn đến mù lòa.

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

THÓI QUEN DÙNG BĂNG VỆ SINH DẪN ĐẾN VIÊM ÂM ĐẠO

Băng vệ sinh là vật dụng không thể thiếu đối với chị em nhưng ít người biết rằng thói quen dùng không đúng cách sẽ gây tác dụng ngược. 

>>>Bổ xung canxi mà vẫn bị loãng xương
>>>Phụ nữ uống bia giảm nguy cơ loãng xương
>>>Thói quen xấu dễ khiến bạn loãng xương

Nên rửa tay trước khi cầm vào băng vệ sinh
Với trường hợp dùng băng vệ sinh nhiều và hàng ngày như vậy có thể đã bị nấm viêm âm đạo. Dùng băng vệ sinh hàng ngày khiến vùng kín luôn ẩm ướt và là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát sinh và lan truyền. Nguy hiểm hơn dùng băng vệ sinh hàng ngày còn còn tạo điều kiện cho cho vi khuẩn trú ngụ ở hậu môn di chuyển lên âm đạo nhanh chóng, thuận lợi.

Một thói quen khác cũng gây hại vô cùng khi chị em dùng băng vệ sinh mà không rửa tay. Bàn tay của bạn sau khi ra đường, làm việc…có rất nhiều vi khuẩn đang trú ngụ. Khi bạn cầm băng vệ sinh vi khuẩn sẽ di chuyển từ tay bạn qua băng vệ sinh. Từ băng vệ sinh vi khuẩn sẽ bám vào da và thâm nhập vào vùng kín gây viêm âm đạo.

Vì vậy, để tránh xa các bệnh viêm nhiễm âm đạo do loạn vi khuẩn các bạn gái nên:

- Chọn băng vệ sinh phù hợp, đạt tiêu chuẩn, có độ thấm thích hợp, thay băng khi dùng được 4 – 6 tiếng để hạn chế vi khuẩn trong âm đạo phát triển, nên rửa bằng nước ấm trong những ngày đèn đỏ.

- Mặc đồ lót thoáng mát, khô ráo và hàng ngày nên rửa vệ sinh bằng nước sạch.

TỰ Ý SỬ DỤNG THUỐC:HẬU QUẢ KHÔN LƯỜNG

Kháng sinh là một chất mà ngay ở nồng độ thấp nhất cũng có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Kháng sinh có thể ức chế và tiêu diệt các vi khuẩn có hại nhưng khi dùng với liều cao và kéo dài thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn.

>>>Thói quen dùng băng vệ sinh dẫn đến viêm âm đạo
>>>Thói quen xấu dễ khiến bạn loãng xương
>>>Bổ xung canxi mà vẫn bị loãng xương

Tuyệt đối không nên tự động sử dụng thuốc kháng sinh
Vi khuẩn có lợi bị tiêu diệt sẽ làm thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột. Vì vậy, để hạn chế tác dụng không mong muốn của kháng sinh nói chung và loạn khuẩn ruột do kháng sinh nói riêng, trước hết cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ của bác sĩ, không tự ý mua thuốc điều trị.

Sử dụng thuốc không theo hướng dẫn của bác sĩ, nhiều khả năng đã bị loạn khuẩn ruột do dùng kháng sinh liều quá cao. Nếu vẫn phải sử dụng thuốc kháng sinh hoặc loạn khuẩn nặng thì phải điều trị hỗ trợ thêm các chế phẩm vi sinh có chứa probiotic và prebiotic để cân bằng lại các chủng vi khuẩn đường ruột.

Nếu trường hợp kết hợp với các chế phẩm vi sinh mà cũng không có hiệu quả thì nên đến bệnh viện để kiểm tra để được điều trị tiêu chảy kịp thời. Không sử dụng men tiêu hóa trong các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh.

Khi bị tiêu chảy,sẽ bị mất nhiều nước nên chú ý bù lượng nước còn thiếu bằng nước điện giải hoặc tăng cường uống nước hoa quả và nước lọc. Có thể dùng dung dịch oresol hoặc viên hydrite. Cần chú ý pha dung dịch bù nước phải theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói oresol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần.

Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi. Trong thời kỳ này bạn cũng nên duy trì chế độ ăn thích hợp. Thức ăn cần mềm và lỏng hơn bình thường nhưng vẫn phải đủ 4 nhóm thực phẩm.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

BỔ SUNG CANXI MÀ VẪN BỊ LOÃNG XƯƠNG

Không những chăm chỉ uống sữa, ông Giàu còn đều đặn uống thuốc bổ sung canxi, nhưng chứng loãng xương vẫn không hề cải thiện.

Theo nghiên cứu của Tổ chức Loãng xương thế giới, trung bình cứ ba phụ nữ ngoại ngũ tuần thì một bị loãng xương. Tỷ lệ này ở nam giới cùng độ tuổi là 1/5. Khảo sát mới đây tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, cho thấy, có đến 17-19% số phụ nữ bị xẹp đốt sống sau tuổi mãn kinh. Lo lắng về bệnh này, nhiều người có tuổi rất chú trọng bổ sung canxi bằng thực phẩm và cả thuốc. Nhưng không ít người đưa vào cơ thể rất nhiều canxi mà xương vẫn xốp dần.

Ông Nguyễn Văn Giàu ở khu tập thể Đại học Mỏ địa chất, Hà Nội, bắt đầu có biểu hiện thoái hóa xương cách đây ba năm, khi 59 tuổi. Trước đây ông không có biểu hiện gì đáng lo ngại về xương, ở tuổi gần 60 vẫn có thể vác được hai bao gạo đi khắp khu phố. Nhưng hai năm trở lại đây, sức khỏe của ông xuống cấp trầm trọng, xách xô nước hơi đầy cũng cảm thấy đau cột sống, "làm ngựa" cho đứa cháu 5 tuổi một vòng là không thể tiếp tục vì nhức mỏi, ê ẩm đau.
Ảnh minh họa

Khi thiếu canxi, xương bị xốp dần. Ảnh: Healthylife.

Để "củng cố" xương cho bố, con gái ông mua về các loại sữa có hàm lượng canxi cao và viên bổ sung canxi. Mỗi ngày ông Giàu uống đều đặn ba ly sữa và hai viên thuốc. Mặc dù đã kiên trì gần hai năm nhưng ông Giàu vẫn không thấy sức khỏe tiến triển gì mà ngược lại, xương vẫn ngày càng thoái hóa.

Còn bà Lâm Thị Hạnh, 51 tuổi, ở Tam Điệp, Ninh Bình có ý thức bổ sung canxi từ khi chưa hề có dấu hiệu bất ổn gì về xương, cũng bằng sữa và các thực phẩm giàu chất này... Tuy nhiên, gần đây các cơn đau lưng vẫn xuất hiện, và các bác sĩ chẩn đoán bà bị loãng xương.

Tiến sĩ Vũ Thị Thanh Thủy, Trưởng khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, cho biết, nhiều người đã bổ sung canxi mà vẫn loãng xương do việc này được nghĩ đến quá muộn. Từ tuổi 35, mật độ xương đã bắt đầu giảm, và đây quá trình này diễn ra âm thầm trong nhiều năm, và khi có những biểu hiện rõ ràng thì tình trạng xương đã khá "tệ". Vì vậy, việc bổ sung canxi phải được thực hiện ngay từ khi còn trẻ và đều đặn suốt cuộc đời. Trên thực tế, mọi người thường nóng vội, ngắt quãng nên không cho kết quả tốt.

Những người loãng xương đã dùng canxi mà vẫn không cải thiện bệnh còn có thể do dùng liều quá thấp. Liều dùng phải tùy thuộc vào lứa tuổi và tình trạng xương của mỗi người. Bên cạnh đó, cũng có những người đã cung cấp đủ nhu cầu canxi nhưng xương vẫn xốp, bởi xương không chỉ cần chất khoáng này. Nếu không có đủ vitamin D, lượng canxi đưa vào cơ thể dù nhiều bao nhiêu vẫn không được hấp thụ tốt. Làn da hấp thu ánh nắng để tạo thành vitamin D1, sau đó chuyển hóa qua gan để tạo thành vitaminD2 rồi qua thận tạo thành vitamin D3. Những người ít tiếp xúc với ánh nắng thường thiếu vitamin D, bệnh nhân suy gan suy thận cũng vậy do không tạo ra vitamin D2 và D3 được, cần bổ sung bằng thuốc.

Trẻ còi xương dù vẫn uống canxi

PHỤ NỮ UỐNG BIA GIẢM NGUY CƠ LOÃNG XƯƠNG

Bia là loại đồ uống được rất nhiều người ưa chuộng, khi uống với một lượng thích hợp bia sẽ giúp giảm khả năng giòn xương.

Một nghiên cứu mới đã phát hiện ra những phụ nữ uống bia thường xuyên xương sẽ chắc khỏe hơn so với những người không uống bia. Điều này có nghĩa là rủi ro mắc chứng loãng xương ở họ thấp hơn rất nhiều.

Ảnh minh họa
Theo các nhà nghiên cứu thì nguyên nhân chính là do trong bia có hàm lượng silic cao, làm xương cứng hơn cũng như tái tạo nhanh chóng phần xương bị gãy. Ngoài ra, trong bia còn chứa rất nhiều phytoestrogens là một chất chiết xuất từ thực vật, có tác dụng giống như oestrogen nội sinh giữ cho xương chắc khỏe.
Xương có cấu tạo từ các thớ khớp với nhau, nước khoáng, mạch máu và tủy. Các nhà nghiên cứu tiến hành theo dõi thói quen ăn uống trên khoảng 1.700 phụ nữ có độ tuổi trung bình khoảng 48. Sau đó họ cũng tiến hành kiểm tra xương tay của những người này. Sở dĩ họ chọn xương tay vì xương tay chỉ ra được dấu hiệu của bệnh loãng xương sớm nhất. Kết quả nhận được cho thấy những phụ nữ uống 1 chai bia mỗi ngày thì nguy cơ loãng xương giảm đi đáng kể.

THÓI QUEN XẤU DỄ KHIẾN BẠN LOÃNG XƯƠNG

Bạn có biết những thói quen xấu dưới đây sẽ khiến cho xương của bạn có vấn đề như đau lưng, đau mỏi các khớp, gãy xương…

Hệ thống xương được coi là “giá đỡ” của cơ thể, có tác dụng bảo vệ các cơ quan, tích trữ Canxi, Magie và các loại khoáng chất, là hợp chất quan trọng để sản sinh ra huyết dịch. Thế nhưng bạn có biết những thói quen xấu dưới đây sẽ khiến cho xương của bạn có vấn đề như đau lưng, đau mỏi các khớp, gãy xương…

1. Giảm cân không đúng cách

Lượng lipit vừa đủ trong cơ thể thông qua quá trình sinh hóa sẽ trở thành Estrogen có tác dụng tăng khả năng hấp thụ Canxi, thúc đẩy quá trình hình thành xương và ngăn ngừa loãng xương. Hiện nay có rất nhiều cô gái trẻ vì mong muốn có một thân hình mảnh mai nên đã liên tục giảm cân. Trong quá trình giảm cân đó không chỉ giảm đi lượng mỡ trong cơ thể mà còn giảm xương khiến cho bạn còn rất trẻ mà đã mắc bệnh loãng xương.

2. Thường xuyên đi giầy cao gót

Phụ nữ luôn thích làm đẹp và giầy cao gót đóng góp không nhỏ trong quá trình đó. Thế nhưng giầy cao gót cũng đem lại không ít bất lợi cho xương của bạn. Bình thường bàn chân của bạn có 3 điểm chịu lực đó là ngón cái, ngón út và gót. Khi bạn đi giầy cao gót trọng lượng cơ thể thường dồn về phía trước, sức nặng cơ thể hầu như dồn hết vào ngón chân cái và ngón út, sẽ gây ra các vấn đề về cột sống lưng.

Thường xuyên đi giầy cao gót sẽ khiến cho các ngón chân phải chịu áp lực quá lớn, khớp gối phải tiếp nhận lực thay đổi thường xuyên làm tăng độ lão hóa của các dây chằng. Bởi vậy đi giầy cao gót không nên chọn giầy cao trên 5cm, mỗi tuần không nên đi quá 4 lần.

Ảnh minh họa
3. Mùa đông mặc váy ngắn

Xương khớp của cơ thể có liên quan trực tiếp đến sức đề kháng và hệ tuần hoàn. Mặc váy ngắn vô hình chung khiến cho đôi chân bạn chịu sự kích thích của không khí lạnh, khiến cho mạch máu co thắt, giảm lượng máu cung cấp cho khớp gối khiến cho sức đề kháng của khớp gối giảm sút. Thời gian kéo dài dễ mắc các bệnh viêm khớp dạng thấp.

4. Suốt ngày ở trong phòng

Nếu như trước đây nguyên nhân chủ yếu dẫn đến loãng xương là do chế độ dinh dưỡng kém thì đến nay, nguyên nhân chủ yếu lại do ít ra ngoài tiếp xúc với ánh mặt trời. Nhân viên văn phòng là những người không muốn ra ngoài, ngại vận động và không thích phơi nắng khiến cho lượng Vitamin D bị thiếu hụt,ảnh hưởng đến việc hấp thụ Canxi của cơ thể dễ dẫn đến loãng xương.

5. Uống các loại nước có ga

Thường xuyên uống các loại nước có ga sẽ khiến mật độ xương của phụ nữ giảm sút. Mật độ xương có liên quan trực tiếp đến việc gãy xương. Theo nghiên cứu của Đại học Havard cho thấy những phụ nữ thường xuyên uống nước có ga nguy cơ bị gẫy xương cao gấp 5 lần bình thường. Các nhà nghiên cứu giải thích do trong các lọa nước có ga có chứa Phosphate, không những làm giảm khả năng hấp thụ Canxi của cơ thể mà còn làm mất Canxi của cơ thể.

6. Dùng máy tính quá nhiều

Các nghiên cứu cho thấy độ tuổi mắc phải các bệnh liên quan đến cột sống ngày càng trẻ hơn. Nguyên nhân có thể là do liên quan trực tiếp đến máy vi tính. Do sử dụng chuột nhiều nên phía bên phải phải dùng lực nhiều hơn gây mất cân bằng giữa hai bên đốt sống cổ, dễ dẫn đến co cơ. Thời gian sử dụng máy tính kéo dài khiến cho đốt sống cổ luôn ở tư thế thẳng, không thoải mái dễ gây ra thoái hóa đốt sống cổ.

6 LOẠI ĐỒ UỐNG NÊN TRÁNH ĐỂ PHÒNG BỆNH LOÃNG XƯƠNG



Các loại thực phẩm giàu canxi tăng cường sức khỏe xương. Nhưng có một số loại thực phẩm khác có thể làm cho xương của bạn bị suy yếu ví nó làm mất các khoáng chất trong xương?

Xương hình thành trên nền tảng của cơ thể và do đó bạn nên đặc biệt chăm sóc cơ thể để duy trì sức khỏe của xương. Chế độ ăn uống của bạn có ảnh hưởng đến sự vững chắc của xương, cả tích cực và theo cách tiêu cực! Các loại thực phẩm giàu canxi tăng cường sức khỏe xương. Nhưng bạn có biết rằng có một số loại thực phẩm khác có thể làm cho xương của bạn bị suy yếu bằng cách làm mất các khoáng chất trong xương?
Hãy xem những gì thực phẩm nào sẽ làm suy yếu xương của bạn:



1. Nước giải khát: Nhiều nước giải khát có chứa axit photphoric làm tăng tỷ lệ bài tiết canxi qua nước tiểu. Ngoài ra, nhiều người lại tránh uống các đồ uống giàu canxi như sữa hoặc nước ép tăng cường cam tăng cường vitamin D, do đó làm giảm hấp thu canxi tổng thể cho cơ thể. Bạn có thể giúp chính mình bằng cách thay các đồ uống có ga bằng các loại đồ uống khác như sữa, sinh tố trái cây, sữa chua, và nước cam tăng cường canxi và vitamin D.
Ảnh minh họa
2. Đồ uống nhiều muối: Muối (cụ thể là natri) làm mất canxi, làm suy yếu xương theo thời gian. Theo các chuyên gia, bạn sẽ mất khoảng 40 mg canxi trong nước tiểu cho mỗi 2.300 mg natri, lượng natri bạn sẽ nhận được trong một ngày (bằng một muỗng cà phê muối).
Trong một nghiên cứu được tiến hành đối với phụ nữ sau mãn kinh, nó đã được tìm thấy rằng những phụ nữ tiêu thụ một chế độ ăn giàu natri thì xương sẽ dễ mất chất khoáng hơn so với những người không ăn nhiều muối.

Ảnh minh họa
Ngoài muối ăn, muối còn được tìm thấy trong gần như tất cả thực phẩm được chế biến như ngũ cốc ăn sáng, bánh mì ngũ cốc nguyên hạt và các loại thức ăn nhanh, chiếm 75% tổng tiêu thụ natri. Nấu ăn không thể không có muối nhưng nên hạn chế tiêu thụ các loại thực phẩm chế biến có nhiều muối. Ăn nhiều thực phẩm giàu kali cũng có thể giúp làm giảm tình trạng mất canxi, kali giúp cân bằng lượng natri trong máu. Thực phẩm giàu kali bao gồm khoai lang, chuối, cà chua và rau bina.

CÁC LOẠI THỰC PHẨM LÀM BẠN LOÃNG XƯƠNG NHANH HƠN





Nhưng cũng có thể bạn không để ý đến những món ăn có trong thực đơn hằng ngày của mình lại làm tăng nguy cơ loãng xương.

Có thể bạn biết rằng canxi và vitamin D rất cần thiết giúp cho xương chắc khỏe. Bạn có biết rằng có những loại thực phẩm làm tăng nguy cơ bị loãng xương? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu làm thế nào để điều chỉnh chế độ ăn của mình để phòng tránh nguy cơ loãng xương.

Quá nhiều protein có thể làm loãng xương

Bạn cần protein để xương chắc khỏe nhưng khi bạn ăn quá nhiều protein, cơ thể sẽ sản xuất ra chất hóa học có tên là sunfat có thể gây ra sự thất thoát canxi của xương. Protein động vật có nguy cơ ảnh hưởng cao hơn protein thực vật. Theo cuộc khảo sát của Khoa Y học, thuộc trường Đại học Harvard ở 116.686 phụ nữ trong mười năm đã cho thấy những phụ nữ ăn thịt màu đỏ ít nhất 5 lần/tuần có nguy cơ bị gãy xương cao hơn những người ăn 1 lần/tuần.

Thịt bò làm tăng nguy cơ gãy xương
Đồ uống chứa cafein

Trong một nghiên cứu gần đây trên 31.527 phụ nữ Thụy Điển trong độ tuổi từ 40 đến 76 do Cục Quản lí Thực phẩm Quốc gia Thụy Điển tiến hành, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng những phụ nữ uống 330mg cafein mỗi ngày tương đương với bốn tách cà phê tăng nguy cơ gãy xương hơn những người khác. Đặc biệt điều này còn ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ canxi của cơ thể. Các nhà nghiên cứu không tìm ra được sự liên hệ giữa trà và tăng nguy cơ gãy xương. Lí do có thể là cafein trong trà chỉ bằng một nửa ở cà phê.

Cà phê làm tăng nguy cơ gãy xương hơn trà
Theo nghiên cứu đo mật độ khoáng xương trong xương sống và hông của 1413 phụ nữ và 1125 nam giới tại Framingham theo mức độ tiêu thụ nước giải khát của họ. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng đồ uống có ga và các loại cà phê khác cũng có thể gây ra loãng xương. Theo nhà nghiên cứu dinh dưỡng và điều phối viên Kristine Cuthrell, Trung tâm nghiên cứu ung thư thuộc trường Đại học Hawaii tại Honolulu: “Lượng phốt pho trong nước ngọt có ga có thể làm giảm khả năng hấp thụ canxi”.

Dẫn xuất của vitamin A – retinol

Các nhà nghiên cứu khoa Y trường Đại học Harvard cho biết những phụ nữ ăn những thực phẩm cung cấp 3000 microgram (mcg) vitamin A mỗi ngày có nguy cơ bị gãy xương hông gấp hai lần so với những người chỉ có 1500 mcg hoặc ít hơn mỗi ngày. Mặc dù vitamin A cần thiết cho sự phát triển xương nhưng nếu quá nhiều retino – một dẫn xuất của vitamin A sẽ làm giảm khả năng hấp thụ vitamin D, dẫn đến loãng xương. Retinol có trong các thực phẩm như gan, lòng đỏ trứng gà, các sản phẩm sữa. Dạng beta carotene của vitamin A có trong khoai lang và cà rốt không gây tác đọng tiêu cực đến sự phát triển của xương.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÒNG NGỪA BỆNH LOÃNG XƯƠNG ?

Chúng ta phải có ý thức phòng ngừa bệnh loãng xương và việc phòng ngừa càng sớm càng có hiệu quả. Trước hết là đảm bảo khối lượng xương đỉnh của bộ xương cao nhất lúc trưởng thành. Muốn vậy phải có một chế độ dinh dưỡng đầy đủ cho các bà mẹ khi mang thai và khi cho con bú. Đảm bảo chế độ dinh dưỡng và vận động cho trẻ em để đạt mức phát triển cơ thể tốt nhất. Duy trì một chế độ dinh dưỡng hợp lý, một nếp sống lành mạnh, năng động, kết hợp hài hòa giữa công việc hàng ngày, hoạt động thể lực, giải trí…ngay từ khi còn nhỏ, ngay từ khi còn trẻ, tránh các thói quen gây ảnh hưởng xấu tới chuyển hóa canxi như: uống nhiều rượu bia, cafe, hút thuốc, ăn kiêng quá mức, thụ động, ít vận động thể lực…phát hiện và điều trị các bệnh kèm theo. Nếu bị bệnh phải sử dụng lâu dài các thuốc chống co giật ( Phenyltoin, Barbiturate…), bổ sung thêm vitamin D.

Ảnh minh họa
Nếu phải sử dụng lâu dài Corticosteroid, phải bổ sung thêm canxi, vitamin D và chất kích thích tạo xương vì Corticosteroid vừa ức chế trực tiếp sự tạo xương, vừa giảm hấp thu vitamin D, vừa tăng thải canxi qua nước tiểu. Ở phụ nữ tuổi mãn kinh cần bổ sung đủ lượng canxi cần thiết bằng chế độ ăn uống hàng ngày và tăng cường các hoạt động thể lực ngoài trời.

LÀM THẾ NÀO ĐẺ BIẾT MÌNH CÓ BỊ LOÃNG XƯƠNG HAY KHÔNG?

Loãng xương là một bệnh tiến triển thầm lặng, lúc đầu thường không có triệu trứng. Khi có triệu chứng thường cơ thể đã mất đi khoảng 30% khối lượng xương. Chính vì thế loãng xương thường rất dễ bỏ sót và không được chẩn đoán sớm. Các triệu chứng lâm sàng sớm bao gồm: đau mỏi mơ hồ ở cột sống, đau dọc các xương dài (đặc biệt là xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh, hay bị chuột rút các cơ (vọp bẻ)…Khi bệnh đã nặng, người bệnh có thể thấy đau thực sự ở cột sống, đau lan theo khoanh liên sườn, đau khi ngồi lâu hoặc gù lưng. Đau có thể đau cấp tính trên nền đau mãn tính từ trước, đau thường xảy ra sau chấn thương, sau một tác động mạnh hay một tư thế không thuận do đó có thể gây gãy xương, thường gặp nhất là gãy lún ở các cột sống lưng.
Ảnh minh họa
Tuy nhiên, để biết chắc chắn mình có bị loãng xương hay không chúng ta phải đến cơ sở y tế để khám và xác định bệnh. Để chẩn đoán xác định bệnh loãng xương, mức độ loãng xương, cần đo khối lượng xương ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi ( bên không thuận ) bằng máy sử dụng tia X năng lượng kép (DXA). Các biện pháp đo khối lượng xương bằng siêu âm hay bằng các kỹ thuật khác chỉ có giá trị tầm soát trong cộng đồng.

NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Bệnh loãng xương là một bệnh làm xương bị rỗ, dần dần trở nên yếu và giòn dễ gẫy. Vì vậy tên của bệnh theo tiếng Anh là Osteoporosis, theo tiếng Pháp là Ostéoprose, đều có cấu tạo từ gốc tiếng Latinh: Osteo – có nghĩa là xương và Porosis có nghĩa là dạng lỗ.
Ảnh minh họa
Thực chất của bệnh này là sự mất cân bằng của hai quá trình: tiêu xương và tạo xương; xương cũ bị tiêu đi mà xương mới không bù đắp kịp. Tình trạng này bắt đầu từ độ tuổi 40 một cách âm thầm, không gây ra triệu chứng hay dấu hiệu nào.

Đây chính là lý do dẫn đến một thực trạng đã thống kê được ở Mỹ: có tới trên 10 triệu người bị loãng xương hoặc có nguy cơ cao bị loãng xương, trong đó 80% là phụ nữ, có tới 34 triệu người có mật độ xương thấp, họ thuộc nhóm có nguy cơ bị loãng xương nếu không có biện pháp dự phòng sớm thích hợp. Một điều đáng lo ngại hơn là chỉ một số lượng nhỏ đó được chẩn đoán và điều trị. Khi được chẩn đoán thì bệnh đã ở giai đoạn phát triển nên điều trị không thể phục hồi hoàn toàn. Như vậy vấn đề cơ bản đặt ra đối với bệnh loãng xương là phòng bệnh sớm để làm giảm tỷ lệ mắc và làm chậm tiến triển của bệnh, phát hiện sớm để điều trị sớm nhằm hạn chế những hậu quả nặng nề của bệnh, nâng cao chất lượng sống cho nhóm người trung niên và cao tuổi. Điều này ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn khi tuổi thọ con người đang ngày càng tăng lên.

Việc thiết thực nhất cần làm cho phòng bệnh loãng xương là phổ biến kiến thức cho người dân giúp họ nhận biết được sớm những yếu tố nguy cơ của bệnh để sớm có biện pháp dự phòng. Các yếu tố nguy cơ của nam giới và nữ giới là khác nhau.
Các yếu tố nguy cơ của nữ giới

(1) Yếu tố nguy cơ chủ yếu của loãng xương ở phụ nữ là mãn kinh, liên quan đến giảm hormone sinh dục nữ estrogen. Ở phụ nữ, loãng xương xảy ra chủ yếu khi đã mãn kinh, trong 5 năm đầu mãn kinh người phụ nữ bị tiêu xương rất nhanh, lượng xương mất đi chiếm tới 1/3 tổng số xương mất cả đời người, phụ nữ trên 50 tuổi có tới 50% khả năng bị gãy xương do loãng xương. Đặc tính này là chung của phụ nữ mọi chủng tộc nhưng những phụ nữ châu Á và người Cap – ca có nguy cơ bị loãng xương cao hơn.

Nguy cơ sẽ cao hơn đối với người bị mãn kinh sớm, có thể là đặc điểm riêng của một số người hoặc là kết quả sau phẫu thuật cắt tử cung và buồng trứng.

Ngoài ra, những phụ nữ không thấy kinh một thời gian trước thời kỳ mãn kinh liên quan tới những tình trạng bệnh lý như chứng ăn uống vô độ, chán ăn hoặc tập luyện thể lực quá sức, cũng bị mất xương nhanh và tiến triển loãng xương.

(2) Tiền sử gia đình có người bị loãng xương hoặc bị gãy xương chỉ từ những chấn thương nhỏ. Những phụ nữ có cha mẹ hoặc ông bà đã được chẩn đoán và điều trị loãng xương, gãy xương do giảm mật độ xương, là nhóm có nguy cơ cao hơn.

(3) Phụ nữ có tạng xương nhỏ và mảnh có nguy cơ bị loãng xương cao hơn so với những phụ nữ khác.

(4) Nhóm người bị những bệnh phải sử dụng một số thuốc có tác dụng phụ tiêu xương nhanh sẽ dễ bị loãng xương.