Ai cũng luôn mong muốn bé yêu của mình có được hàm răng chắc khỏe, trắng bóng và biết cách tự vệ sinh răng miệng.Trong khi đó, cuộc sống bộn bề khiến chúng ta có ít thời gian dành cho bé yêu, đôi khi chưa quan tâm và chăm sóc đúng mức răng miệng cho bé.
Ảnh minh họa
Bệnh răng miệng- Bạn có biết?
80% vi khuẩn gây bệnh răng miệng không nằm trên răng, bàn chải đánh răng thường không thể làm sạch được những vùng khó tiếp cận trong khoang miệng.
Mặt khác, trẻ nhỏ thường chưa biết chải răng đúng cách, các bé hay ăn quà vặt, bánh kẹo, uống sữa hàng ngày (dễ tạo mảng bám), môi trường sống ô nhiễm,… sẽ dẫn tới sâu răng, mủn răng và các bệnh răng miệng, họng. Hầu hết các bậc cha mẹ lại chưa có thói quen kiểm tra tình trạng răng miệng của con; chỉ đến khi bé bị viêm lợi nặng, đau răng, chảy máu chân răng, sâu răng chúng ta mới đưa con đến Nha sỹ.
Chớ coi thường các biểu hiện lạ về răng miệng ở trẻ !!
Trẻ thường bị sâu răng, đốm màu sậm như cà phê gây đau nhức, khó nhai, sốt ; viêm lợi, đỏ và sưng tấy, dễ chảy máu chân răng, hôi miệng… lâu dần có thể dẫn tới các biến chứng như: Viêm tủy răng, hoại tử, áp xe răng gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và học tập của trẻ, chi phí điều trị bệnh răng miệng thường rất cao, khiến các bậc cha mẹ không ít lo lắng.
Cần làm gì để chăm sóc răng miệng cho trẻ?
Nhắc nhở bé hiểu được lợi ích, tầm quan trọng của ý thức bảo vệ sức khỏe răng miệng ngay từ sớm, giữ gìn vệ sinh ăn uống, hạn chế dùng đồ ngọt, đồ nóng, lạnh và nên kiểm tra định kỳ tình trạng răng miệng cho bé. Ngoài việc hướng dẫn trẻ đánh răng hàng ngày, các bậc cha mẹ nên kết hợp sử dụngnước súc miệng cho bé vì dung dịch nước súc miệng có thể vào sâu tận các khe răng, các vùng mà bàn chải đánh răng khó tiếp cận, giúp cuốn trôi mảng bám, làm sạch răng miệng hiệu quả!
Nước súc miệng nào an toàn cho bé?
Vấn đề an toàn luôn được ưu tiên hàng đầu đối với các sản phẩm chăm sóc răng miệng cho trẻ nhỏ.
Nước muối chứa Natri chlorid có tác dụng sát khuẩn chống viêm tốt, an toàn, được sử dụng khá phổ biến để phòng ngừa một số bệnh răng miệng; nhưng chưa đủ để chăm sóc răng miệng toàn diện cho trẻ nhỏ.
Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc răng miệng cho trẻ, công ty Traphaco – thương hiệu dược phẩm hàng đầu Việt Nam đã nghiên cứu, phát triển và đưa ra thị trường nước súc miệng trẻ em T-B Kid - sự kết hợp tối ưu 3 thành phần được các Nha sỹ tin dùng: Natri chlorid - sát khuẩn, Xylitol - ngừa sâu răng, Natri fluorid – giúp răng chắc khỏe. Với nước súc miệng T-B Kid, bé dễ dàng sử dụng để làm sạch cặn bám trên răng. Đặc biệt, bé được ngăn ngừa sâu răng, mủn răng và các bệnh răng, miệng, họng.
Nước súc miệng T-B Kid được nghiên cứu và sản xuất dành riêng cho trẻ nhỏ, hương vị hấp dẫn, an toàn, không gây hại nếu bé lỡ nuốt. Các bậc cha mẹ nên tạo cho bé thói quen đánh răng kết hợp với sử dụng nước súc miệng hàng ngày để chăm sóc răng miệng hiệu quả.
Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013
GHÉP XƯƠNG ĐỂ CHỮA UNG THƯ XƯƠNG
Ung thư xương thường xảy ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên và tiến triển rất nhanh. Xu hướng điều trị hiện nay là cố gắng bảo tồn nhằm hạ thấp tỷ lệ tàn tật. Bệnh nhân được cắt bỏ khối u xương, sau đó ghép hồi phục đoạn xương đã mất.
Ảnh minh họa
Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Trưởng khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện K, cho biết, ung thư xương không hay gặp nhưng là bệnh nặng và thường xảy ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Đây là loại ung thư liên kết, tiến triển rất nhanh. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh thường di căn theo đường máu tới các tạng ở xa, vào gan, phổi, xương.
Các loại ung thư biểu hiện rõ ràng ở bề mặt như ung thư da, ung thư cổ tử cung, ung thư vú, khoang miệng... thường được phát hiện và điều trị sớm. Nhưng với ung thư xương, tụy thì thường ngược lại, nhiều trường hợp đến bệnh viện khi đã ở giai đoạn muộn. Hơn nữa, ung thư xương hay gặp ở người trẻ tuổi, do vậy tốc độ phát triển của bệnh càng nhanh hơn.
Phác đồ điều trị ung thư xương tùy thuộc vào thể giải phẫu bệnh và giai đoạn sớm hay muộn. Phương pháp điều trị căn bản là phẫu thuật, phối hợp với hóa-xạ trị. Xu hướng hiện nay là tăng cường điều trị bảo tồn, bằng cách cắt bỏ khối u xương, sau đó ghép phục hồi bằng xương (tự thân, đồng loại) hoặc vật liệu nhân tạo.
Kỹ thuật ghép xương được chỉ định cho những trường hợp sarcôm xương giai đoạn sớm tại chỗ. Sarcôm là bệnh rất ác tính, hay di căn, do vậy chỉ định bảo tồn ghép xương hết sức nghiêm ngặt. Phải đánh giá chính xác sự lan rộng tại chỗ của khối u, phối hợp hóa-xạ trị. Những bệnh lý lành tính như u nang xương cũng được chỉ định phương pháp này để mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn. Trường hợp u tế bào khổng lồ ác tính (còn được gọi là u tế bào hủy xương) thì phải nạo, cắt hết sức tỉ mỉ các tế bào u, sau đó mới tiến hành ghép.
Theo tiến sĩ Hiếu, thực tế điều trị cho thấy, phương pháp ghép xương thay thế cho kết quả điều trị tốt, rất hiếm bị thất bại (như thải loại mảnh ghép). Ghép xương đặc biệt hữu ích với bệnh u tế bào khổng lồ, trước kia hầu hết phải cắt cụt chi hoặc tháo khớp.
Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện K đang phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu chế tạo một loại vật liệu vô cơ sinh học thay thế được xương tự thân hoặc xương đồng loại, kết quả ban đầu khả quan. Loại vật liệu này không chỉ tốt mà còn rẻ, tạo thêm nhiều cơ hội cho bệnh nhân nghèo.
Ảnh minh họa
Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Trưởng khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện K, cho biết, ung thư xương không hay gặp nhưng là bệnh nặng và thường xảy ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Đây là loại ung thư liên kết, tiến triển rất nhanh. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh thường di căn theo đường máu tới các tạng ở xa, vào gan, phổi, xương.
Các loại ung thư biểu hiện rõ ràng ở bề mặt như ung thư da, ung thư cổ tử cung, ung thư vú, khoang miệng... thường được phát hiện và điều trị sớm. Nhưng với ung thư xương, tụy thì thường ngược lại, nhiều trường hợp đến bệnh viện khi đã ở giai đoạn muộn. Hơn nữa, ung thư xương hay gặp ở người trẻ tuổi, do vậy tốc độ phát triển của bệnh càng nhanh hơn.
Phác đồ điều trị ung thư xương tùy thuộc vào thể giải phẫu bệnh và giai đoạn sớm hay muộn. Phương pháp điều trị căn bản là phẫu thuật, phối hợp với hóa-xạ trị. Xu hướng hiện nay là tăng cường điều trị bảo tồn, bằng cách cắt bỏ khối u xương, sau đó ghép phục hồi bằng xương (tự thân, đồng loại) hoặc vật liệu nhân tạo.
Kỹ thuật ghép xương được chỉ định cho những trường hợp sarcôm xương giai đoạn sớm tại chỗ. Sarcôm là bệnh rất ác tính, hay di căn, do vậy chỉ định bảo tồn ghép xương hết sức nghiêm ngặt. Phải đánh giá chính xác sự lan rộng tại chỗ của khối u, phối hợp hóa-xạ trị. Những bệnh lý lành tính như u nang xương cũng được chỉ định phương pháp này để mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn. Trường hợp u tế bào khổng lồ ác tính (còn được gọi là u tế bào hủy xương) thì phải nạo, cắt hết sức tỉ mỉ các tế bào u, sau đó mới tiến hành ghép.
Theo tiến sĩ Hiếu, thực tế điều trị cho thấy, phương pháp ghép xương thay thế cho kết quả điều trị tốt, rất hiếm bị thất bại (như thải loại mảnh ghép). Ghép xương đặc biệt hữu ích với bệnh u tế bào khổng lồ, trước kia hầu hết phải cắt cụt chi hoặc tháo khớp.
Khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện K đang phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu chế tạo một loại vật liệu vô cơ sinh học thay thế được xương tự thân hoặc xương đồng loại, kết quả ban đầu khả quan. Loại vật liệu này không chỉ tốt mà còn rẻ, tạo thêm nhiều cơ hội cho bệnh nhân nghèo.
HẬU QUẢ CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG
“Phải tận mắt chứng kiến những hậu quả do bệnh loãng xương gây ra cho các bệnh nhân đang điều trị ở đây mới thấy được căn bệnh này đáng sợ đến thế nào”.
Những hậu quả khôn lường
Ảnh minh họa
Người mẫu Thúy Hằng, Giám đốc công ty Elite khu vực phía Bắc, đã chia sẻ như vậy sau chuyến thăm các bệnh nhân tại khoa Cơ xương khớp, bệnh viện Bạch Mai trong những ngày đầu tháng 3 vừa qua.
Cô Phạm Thị Ngọc, (Bắc Ninh) kể lại: “Từ nhiều năm trước, tôi thường bị đau ở xương tay và xương chân nhưng cứ chủ quan, chỉ nghĩ là do làm việc vất vả chứ không hề biết hệ xương của mình đang thiếu hụt can-xi. Chỉ đến cách đây hơn 1 năm, hai đầu gối và xương cẳng chân tôi cứ đau buốt, nhức nhối dù xoa bóp bao nhiêu dầu, chườm đủ loại lá mà vẫn không thuyên giảm, tôi mới đi khám ở bệnh viện Bạch Mai thì được chẩn đoán là loãng xương và thoái hóa khớp, khi đó thì bệnh đã trầm trọng rồi. Giờ thì tôi bị đau nhức toàn thân, đi lại vô cùng khó khăn, thậm chí có lúc không thể đi lại được.”
Nhìn dáng người thấp nhỏ của cô Phan Thị Ngọ (Vĩnh Phúc), khó có thể tin rằng cách đây chỉ nửa năm, cô phải đi cấp cứu vì bệnh loãng xương. “Tôi cứ tưởng là mình bị đau do dây thần kinh chứ có nghĩ là bị loãng xương đâu. Các bác sĩ cho biết xương đã bị loãng rồi thì khó có khả năng hồi phục và tôi sẽ phải điều trị loãng xương suốt đời.” - cô Ngọ kể.
Cũng như nhiều bệnh nhân khác, khi bị đau nhức ở các khớp xương, cô Đinh Thị Lời (Hưng Yên) chỉ nghĩ mình bị bệnh khớp nên tự mua thuốc giảm đau về uống. Cô Lời buồn bã: “Đến giờ tôi gần như đã ‘thường trú’ ở bệnh viện này. Đây đã là đợt điều trị thứ ba, tốn kém biết bao nhiêu tiền bạc… Hiện giờ tôi không thể cúi người; các khớp ngón tay bị sưng; đứng lên, ngồi xuống hay đi lại đều phải có người giúp…”
Lắng nghe chia sẻ của các bệnh nhân, Thúy Hằng xúc động cho biết: “Trước giờ Hằng cứ nghĩ đã biết rõ về bệnh loãng xương rồi nhưng khi đến đây thì Hằng mới hiểu hết những hệ lụy và biến chứng nghiêm trọng của nó. Việc điều trị bệnh không chỉ bòn rút sức khỏe người bệnh mà còn gây ra gánh nặng kinh tế và những nỗi khổ vô hình khác cho gia đình họ. Vì vậy, hãy phòng bệnh loãng xương ngay từ sớm, đừng đợi đến khi quá muộn để phải chịu những hậu quả đáng tiếc như vậy.”
Hãy phòng ngừa loãng xương trước khi quá muộn!
TS-BS Nguyễn Mai Hồng, Phó chủ tịch Hội loãng xương Hà Nội, Phó Trưởng khoa Cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai, cho biết: “Tỉ lệ bệnh nhân loãng xương đến điều trị tại bệnh viện Bạch Mai đang gia tăng trong những năm gần đây. Nhiều bệnh nhân không biết về bệnh loãng xương và những ảnh hưởng nghiêm trọng của căn bệnh này tới chất lượng cuộc sống, vì thế, hầu hết bệnh nhân khi nhập viện đều đã bước vào giai đoạn nặng với những biến chứng nặng nề như gãy xương tại cột sống và các vị trí xương khác như cổ tay, cổ xương đùi… Ở giai đoạn này, việc điều trị thường rất tốn kém do phải sử dụng những loại thuốc đặc trị, phải điều trị nhiều đợt liên tục và kéo dài trong nhiều năm.”
Theo TS-BS Nguyễn Mai Hồng, mặc dù bệnh loãng xương rất nguy hiểm nhưng điều may mắn là việc phòng ngừa căn bệnh này lại khá đơn giản như duy trì thói quen vận động, phơi nắng 15 phút/ngày, bổ sung can-xi và vitamin D qua chế độ dinh dưỡng và đặc biệt là uống sữa giàu can-xi... “Tuy nhiên, cần chủ động phòng ngừa loãng xương ngay từ độ tuổi 35 vì sau lứa tuổi này, mật độ xương bắt đầu suy giảm và bạn có thể có nguy cơ bị loãng xương nếu không chăm sóc xương đúng cách” - TS. BS Nguyễn Mai Hồng cho biết thêm.
Ứng dụng tinh hoa Y học cổ truyền dân tộc, công ty cổ phần Traphaco – thương hiệu Đông dược hàng đầu Việt Nam, đã nghiên cứu thành công Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco, với thành phần là Canxi và các vị dược liệu quý tốt cho xương khớp, giúp cường kiện gân cốt, đi lại vận động dễ dàng. Abfuco ra đời đã đáp ứng được niềm mong mỏi của người tiêu dùng Việt Nam như một giải pháp an toàn, tiên lợi để phòng loãng xương, hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp. Trong nhiều năm qua, Abfuco luôn đồng hành cùng phụ nữ Việt Nam trong hành trình phòng ngừa nguy cơ loãng xương với mục tiêu từng bước cải thiện sức khỏe xương của người Việt.
Những hậu quả khôn lường
Ảnh minh họa
Người mẫu Thúy Hằng, Giám đốc công ty Elite khu vực phía Bắc, đã chia sẻ như vậy sau chuyến thăm các bệnh nhân tại khoa Cơ xương khớp, bệnh viện Bạch Mai trong những ngày đầu tháng 3 vừa qua.
Cô Phạm Thị Ngọc, (Bắc Ninh) kể lại: “Từ nhiều năm trước, tôi thường bị đau ở xương tay và xương chân nhưng cứ chủ quan, chỉ nghĩ là do làm việc vất vả chứ không hề biết hệ xương của mình đang thiếu hụt can-xi. Chỉ đến cách đây hơn 1 năm, hai đầu gối và xương cẳng chân tôi cứ đau buốt, nhức nhối dù xoa bóp bao nhiêu dầu, chườm đủ loại lá mà vẫn không thuyên giảm, tôi mới đi khám ở bệnh viện Bạch Mai thì được chẩn đoán là loãng xương và thoái hóa khớp, khi đó thì bệnh đã trầm trọng rồi. Giờ thì tôi bị đau nhức toàn thân, đi lại vô cùng khó khăn, thậm chí có lúc không thể đi lại được.”
Thúy Hằng trong chuyến thăm và tặng quà cho các bệnh nhân bị loãng xương đang điều trị tại bệnh viện Bạch Mai
Nhìn dáng người thấp nhỏ của cô Phan Thị Ngọ (Vĩnh Phúc), khó có thể tin rằng cách đây chỉ nửa năm, cô phải đi cấp cứu vì bệnh loãng xương. “Tôi cứ tưởng là mình bị đau do dây thần kinh chứ có nghĩ là bị loãng xương đâu. Các bác sĩ cho biết xương đã bị loãng rồi thì khó có khả năng hồi phục và tôi sẽ phải điều trị loãng xương suốt đời.” - cô Ngọ kể.
Cũng như nhiều bệnh nhân khác, khi bị đau nhức ở các khớp xương, cô Đinh Thị Lời (Hưng Yên) chỉ nghĩ mình bị bệnh khớp nên tự mua thuốc giảm đau về uống. Cô Lời buồn bã: “Đến giờ tôi gần như đã ‘thường trú’ ở bệnh viện này. Đây đã là đợt điều trị thứ ba, tốn kém biết bao nhiêu tiền bạc… Hiện giờ tôi không thể cúi người; các khớp ngón tay bị sưng; đứng lên, ngồi xuống hay đi lại đều phải có người giúp…”
Lắng nghe chia sẻ của các bệnh nhân, Thúy Hằng xúc động cho biết: “Trước giờ Hằng cứ nghĩ đã biết rõ về bệnh loãng xương rồi nhưng khi đến đây thì Hằng mới hiểu hết những hệ lụy và biến chứng nghiêm trọng của nó. Việc điều trị bệnh không chỉ bòn rút sức khỏe người bệnh mà còn gây ra gánh nặng kinh tế và những nỗi khổ vô hình khác cho gia đình họ. Vì vậy, hãy phòng bệnh loãng xương ngay từ sớm, đừng đợi đến khi quá muộn để phải chịu những hậu quả đáng tiếc như vậy.”
Hãy phòng ngừa loãng xương trước khi quá muộn!
TS-BS Nguyễn Mai Hồng, Phó chủ tịch Hội loãng xương Hà Nội, Phó Trưởng khoa Cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai, cho biết: “Tỉ lệ bệnh nhân loãng xương đến điều trị tại bệnh viện Bạch Mai đang gia tăng trong những năm gần đây. Nhiều bệnh nhân không biết về bệnh loãng xương và những ảnh hưởng nghiêm trọng của căn bệnh này tới chất lượng cuộc sống, vì thế, hầu hết bệnh nhân khi nhập viện đều đã bước vào giai đoạn nặng với những biến chứng nặng nề như gãy xương tại cột sống và các vị trí xương khác như cổ tay, cổ xương đùi… Ở giai đoạn này, việc điều trị thường rất tốn kém do phải sử dụng những loại thuốc đặc trị, phải điều trị nhiều đợt liên tục và kéo dài trong nhiều năm.”
Theo TS-BS Nguyễn Mai Hồng, mặc dù bệnh loãng xương rất nguy hiểm nhưng điều may mắn là việc phòng ngừa căn bệnh này lại khá đơn giản như duy trì thói quen vận động, phơi nắng 15 phút/ngày, bổ sung can-xi và vitamin D qua chế độ dinh dưỡng và đặc biệt là uống sữa giàu can-xi... “Tuy nhiên, cần chủ động phòng ngừa loãng xương ngay từ độ tuổi 35 vì sau lứa tuổi này, mật độ xương bắt đầu suy giảm và bạn có thể có nguy cơ bị loãng xương nếu không chăm sóc xương đúng cách” - TS. BS Nguyễn Mai Hồng cho biết thêm.
Hầu hết các bệnh nhân khi nhập viện điều trị đều thì bệnh loãng xương đã bước vào giai đoạn nặng
Ứng dụng tinh hoa Y học cổ truyền dân tộc, công ty cổ phần Traphaco – thương hiệu Đông dược hàng đầu Việt Nam, đã nghiên cứu thành công Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco, với thành phần là Canxi và các vị dược liệu quý tốt cho xương khớp, giúp cường kiện gân cốt, đi lại vận động dễ dàng. Abfuco ra đời đã đáp ứng được niềm mong mỏi của người tiêu dùng Việt Nam như một giải pháp an toàn, tiên lợi để phòng loãng xương, hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp. Trong nhiều năm qua, Abfuco luôn đồng hành cùng phụ nữ Việt Nam trong hành trình phòng ngừa nguy cơ loãng xương với mục tiêu từng bước cải thiện sức khỏe xương của người Việt.
BỆNH LOÃNG XƯƠNG-KHÓ CHỮA NHƯNG DỄ PHÒNG NGỪA
Theo số liệu thống kê của Hội Loãng xương TP.HCM, nước ta hiện có khoảng 2,8 triệu người mắc bệnh loãng xương, trong số đó có đến 2,1 triệu phụ nữ đang “sống chung” và gánh chịu những hệ lụy do căn bệnh này gây ra. TS.BS Lê Anh Thư (Bệnh viện Chợ Rẫy - TP.HCM) cho biết: “Loãng xương là căn bệnh khó chữa, nguy hiểm nhưng dễ phòng ngừa”.
Ảnh minh họa
Những hệ lụy khôn lường
Cô Lê Minh Ngọc (53 tuổi, quận 10 - TP.HCM) cho biết: “Trước đây khi bị những cơn đau ở xương tay, xương chân, tôi cứ nghĩ là do làm việc vất vả chứ không hề biết hệ xương của mình đang thiếu hụt canxi. Không ngờ khi tình cờ đo mật độ xương ở Bệnh viện Chợ Rẫy thì mới biết khối lượng xương của tôi đã mất hơn phân nửa.
Từ đó đến nay, tôi tốn rất nhiều tiền bạc cho các loại thuốc uống, thuốc tiêm đặc trị nhưng bệnh cũng không thuyên giảm bao nhiêu. Nếu lúc trước tôi biết quan tâm, chăm sóc sức khỏe xương của mình tốt hơn thì đâu đến nỗi như bây giờ”.
Cũng như nhiều bệnh nhân khác, khi bị đau nhức ở các khớp xương, anh Lam Hà (49 tuổi) chủ quan nghĩ mình bị bệnh khớp nên tự mua thuốc giảm đau về uống. Anh Hà buồn bã: “Cách đây hơn 6 tháng, hai đầu gối và xương chân tôi cứ đau buốt dù xoa bóp bao nhiêu dầu, tôi đi khám ở bệnh viện thì được chẩn đoán là loãng xương. Lúc đó thì bệnh đã trầm trọng rồi. Giờ thì tôi bị đau nhức toàn thân, đi lại vô cùng khó khăn”.
BS. Lê Anh Thư cho hay: “Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân loãng xương đến điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy đang gia tăng.
Nhiều bệnh nhân không biết những ảnh hưởng nghiêm trọng của căn bệnh này tới chất lượng cuộc sống, vì thế khi nhập viện đều đã bước vào giai đoạn nặng với các biến chứng nặng nề”. Cũng theo BS. Lê Anh Thư thì dấu hiệu sớm nhất của bệnh này là đau lưng nhẹ, âm ỉ, thường bị bỏ qua. Nếu không điều trị loãng xương có thể gây ra gãy xương. Nguy cơ loãng xương cũng tăng cao ở những người bị viêm khớp dạng thấp, viêm gan C, nhiễm trùng gan, cường giáp, cường tuyến phó giáp. Ngoài ra, việc dùng lâu dài một số thuốc cũng có thể dẫn đến bệnh này như heparin (làm loãng máu), phenytoin (chống động kinh), corticoid (kháng viêm).
Việc phòng ngừa đơn giản
BS. Lê Anh Thư khuyến cáo: “Loãng xương được xếp vào một trong những căn bệnh khó có khả năng hồi phục hoàn toàn, việc điều trị bệnh này thường phức tạp, rất tốn kém, kéo dài trong nhiều năm. Tuy nhiên, mặc dù bệnh loãng xương rất nguy hiểm nhưng may mắn là việc phòng ngừa căn bệnh này lại khá đơn giản như:
Duy trì thói quen vận động, phơi nắng 15 phút/ngày, bổ sung Canxi, vitamin D qua chế độ dinh dưỡng. Tập thể dục ngoài trời buổi sáng cũng là một biện pháp tăng cường vitamin D hiệu quả, giúp tăng cường sự chắc khỏe cho xương, duy trì thói quen vận động tốt cho xương. Ngoài ra, cũng nên tránh nguy cơ té ngã, duy trì cân nặng hợp lý, tránh thuốc lá, bia, rượu…
Cần chủ động phòng ngừa loãng xương ngay từ độ tuổi 35 vì sau lứa tuổi này, mật độ xương bắt đầu suy giảm và có thể có nguy cơ bị loãng xương nếu không chăm sóc xương đúng cách”. Ngoài ra có thể kết hợp sử dụng một số loại chế phẩm thiên nhiên của những thương hiệu dược phẩm nổi tiếng như Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco của công ty cổ phần Traphaco, đã được chứng minh hiệu quả và an toàn khi dùng lâu dài.
Để phát hiện sớm bệnh loãng xương, nên đi khám bệnh sớm ngay khi có các dấu hiệu đau mỏi mơ hồ ở cột sống, ở hệ thống xương khớp, dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, vọp bẻ… Các BS chuyên khoa sẽ cho kiểm tra bằng cách chụp X quang xương hoặc cột sống; đo khối lượng xương bằng kỹ thuật đo mật độ xương hấp phụ tia X năng lượng kép (DEXA) trên máy DEXXUM T với kỹ thuật rất đơn giản, nhanh gọn chỉ trong vòng 15 phút, không có hại cho sức khỏe.
Ảnh minh họa
Những hệ lụy khôn lường
Cô Lê Minh Ngọc (53 tuổi, quận 10 - TP.HCM) cho biết: “Trước đây khi bị những cơn đau ở xương tay, xương chân, tôi cứ nghĩ là do làm việc vất vả chứ không hề biết hệ xương của mình đang thiếu hụt canxi. Không ngờ khi tình cờ đo mật độ xương ở Bệnh viện Chợ Rẫy thì mới biết khối lượng xương của tôi đã mất hơn phân nửa.
Từ đó đến nay, tôi tốn rất nhiều tiền bạc cho các loại thuốc uống, thuốc tiêm đặc trị nhưng bệnh cũng không thuyên giảm bao nhiêu. Nếu lúc trước tôi biết quan tâm, chăm sóc sức khỏe xương của mình tốt hơn thì đâu đến nỗi như bây giờ”.
Cũng như nhiều bệnh nhân khác, khi bị đau nhức ở các khớp xương, anh Lam Hà (49 tuổi) chủ quan nghĩ mình bị bệnh khớp nên tự mua thuốc giảm đau về uống. Anh Hà buồn bã: “Cách đây hơn 6 tháng, hai đầu gối và xương chân tôi cứ đau buốt dù xoa bóp bao nhiêu dầu, tôi đi khám ở bệnh viện thì được chẩn đoán là loãng xương. Lúc đó thì bệnh đã trầm trọng rồi. Giờ thì tôi bị đau nhức toàn thân, đi lại vô cùng khó khăn”.
BS. Lê Anh Thư cho hay: “Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân loãng xương đến điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy đang gia tăng.
Nhiều bệnh nhân không biết những ảnh hưởng nghiêm trọng của căn bệnh này tới chất lượng cuộc sống, vì thế khi nhập viện đều đã bước vào giai đoạn nặng với các biến chứng nặng nề”. Cũng theo BS. Lê Anh Thư thì dấu hiệu sớm nhất của bệnh này là đau lưng nhẹ, âm ỉ, thường bị bỏ qua. Nếu không điều trị loãng xương có thể gây ra gãy xương. Nguy cơ loãng xương cũng tăng cao ở những người bị viêm khớp dạng thấp, viêm gan C, nhiễm trùng gan, cường giáp, cường tuyến phó giáp. Ngoài ra, việc dùng lâu dài một số thuốc cũng có thể dẫn đến bệnh này như heparin (làm loãng máu), phenytoin (chống động kinh), corticoid (kháng viêm).
Việc phòng ngừa đơn giản
BS. Lê Anh Thư khuyến cáo: “Loãng xương được xếp vào một trong những căn bệnh khó có khả năng hồi phục hoàn toàn, việc điều trị bệnh này thường phức tạp, rất tốn kém, kéo dài trong nhiều năm. Tuy nhiên, mặc dù bệnh loãng xương rất nguy hiểm nhưng may mắn là việc phòng ngừa căn bệnh này lại khá đơn giản như:
Duy trì thói quen vận động, phơi nắng 15 phút/ngày, bổ sung Canxi, vitamin D qua chế độ dinh dưỡng. Tập thể dục ngoài trời buổi sáng cũng là một biện pháp tăng cường vitamin D hiệu quả, giúp tăng cường sự chắc khỏe cho xương, duy trì thói quen vận động tốt cho xương. Ngoài ra, cũng nên tránh nguy cơ té ngã, duy trì cân nặng hợp lý, tránh thuốc lá, bia, rượu…
Cần chủ động phòng ngừa loãng xương ngay từ độ tuổi 35 vì sau lứa tuổi này, mật độ xương bắt đầu suy giảm và có thể có nguy cơ bị loãng xương nếu không chăm sóc xương đúng cách”. Ngoài ra có thể kết hợp sử dụng một số loại chế phẩm thiên nhiên của những thương hiệu dược phẩm nổi tiếng như Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco của công ty cổ phần Traphaco, đã được chứng minh hiệu quả và an toàn khi dùng lâu dài.
Để phát hiện sớm bệnh loãng xương, nên đi khám bệnh sớm ngay khi có các dấu hiệu đau mỏi mơ hồ ở cột sống, ở hệ thống xương khớp, dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, vọp bẻ… Các BS chuyên khoa sẽ cho kiểm tra bằng cách chụp X quang xương hoặc cột sống; đo khối lượng xương bằng kỹ thuật đo mật độ xương hấp phụ tia X năng lượng kép (DEXA) trên máy DEXXUM T với kỹ thuật rất đơn giản, nhanh gọn chỉ trong vòng 15 phút, không có hại cho sức khỏe.
CANXI TRONG THỰC PHẨM GIÚP XƯƠNG CHẮC KHỎE
Theo số liệu thống kê của Hội Loãng xương tp Hồ Chí Minh, số người mắc bệnh loãng xương đang gia tăng ở mức báo động. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 2,8 triệu người bị bệnh loãng xương.
Dự báo đến năm 2030, số người bị loãng xương ở Việt Nam có thể sẽ lên đến 4,5 triệu người (tăng 172% – 174 %).Uống thực phẩm chức năng hay bổ sung canxi từ thực phẩm hàng ngày? Thực phẩm giàu canxi sẽ là lựa chọn của nhiều người vì tiện lợi và tiết kiệm lại an toàn. Nhưng thực phẩm nào có nhiều canxi giúp ngăn ngừa loãng xương? Tạp chí Health Magazine sẽ giúp bạn trả lời những thắc mắc trên.
Theo tạp chí Health Magazine có hai chất dinh dưỡng quan trọng giúp xương chắc khỏe: canxi và vitamin D. Canxi hỗ trợ cấu trúc xương và răng, trong khi vitamin D cải thiện sự hấp thụ canxi và tăng trưởng xương. Tạp chí cũng tổng hợp lại những thực phẩm dinh dưỡng giúp cho xương chắc khỏe.
Người trưởng thành cho đến tuổi 50 nên có khoảng 1.000mg canxi và 200IU (đơn vị quốc tế) vitamin D mỗi ngày. Người trên 50 tuổi nên có 1.200mg canxi và 400 đến 600IU vitamin D mỗi ngày.
Những chất dinh dưỡng này quan trọng cho quá trình phát triển và trưởng thành, nhưng đồng thời chúng giúp ích khi bạn về già. Nếu bạn bị loãng xương, làm cho xương giòn và dễ gãy, hấp thụ nhiều canxi và vitamin D có thể giúp suy giảm bệnh.
1. Sữa chua
Hầu hết mọi người tổng hợp vitamin D thông qua tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, nhưng một số loại thực phẩm, như sữa chua, có thể giúp bổ sung vitamin D. Một cốc sữa chua mỗi ngày là cách đơn giản và sảng khoái nhất để bổ sung khoảng 20% lượng canxi và vitamin D mỗi ngày.
2. Sữa
250 ml sữa không béo sẽ cung cấp cho bạn khoảng 30% lượng canxi cần thiết mỗi ngày. Bạn cũng có thể chọn những sản phẩm sữa có bổ sung vitamin D. 3 ly sữa mỗi ngày là điều cần thiết, nếu không thể uống nhiều sữa, bạn có thể uống sinh tố có sữa hoặc sử dụng sữa với các món ăn khác.
3. Phô mai
Phô mai chứa nhiều canxi, nhưng bạn cũng không nên ăn quá lượng cần thiết. Khoảng 40 gram phô mai cheddar cung cấp đến 30% lượng canxi cần thiết hàng ngày. Hầu hết các loại pho mát đều chứa một lượng nhỏ vitamin D, nhưng không đủ cho nhu cầu hàng ngày của cơ thể.
4. Trứng
Dù lòng đỏ trứng chỉ chứa khoảng 6% lượng vitamin D cần thiết, nhưng đây là một trong những loại thực phẩm dễ mua, dễ chế biến và dễ ăn. Nhưng không nên lạm dụng việc sử dụng trứng, ăn quá nhiều trứng có thể mang lại một số tác hại đến sức khỏe của bạn.
5. Cá mòi
Cá mòi đóng hộp có giá trị dinh dưỡng rất cao, chúng cung cấp một lượng lớn vitamin D và canxi. Nhìn lạ mắt với mùi vị hấp dẫn sẽ mang lại cho thực đơn của bạn phong phú, mới lạ hơn.
6. Cá hồi
Cá hồi là một trong những loại thực phẩm ngon và mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng. Khoảng 1 lạng cá hồi đỏ có chứa tới hơn 100% lượng vitamin D cơ thể cần. Ngoài ra, trong cá hồi còn chứa nhiều axit béo omega-3 tốt cho tim mạch.
Xương khỏe nhờ cung cấp đủ canxi từ những thực phẩm giàu canxi.
7. Cá ngừ
Cá ngừ có chứa nhiều vitamin D. 85 gram cá ngừ đóng hộp cung cấp cho bạn đến 154 IU, khoảng gần 40% lượng vitamin D cần thiết cho cơ thể mỗi ngày. Ngoài ra cá ngừ cũng giúp bổ sung canxi cho cơ thể.
8. Rau bina
Rau bina hay còn gọi là rau chân vịt, rau bó xôi được bán tại nhiều cửa hàng rau sạch. Loại rau này rất giàu dinh dưỡng. Một đĩa rau bina chứa đến 25% lượng canxi hàng ngày, ngoài ra còn cung cấp thêm cho bạn chất xơ, sắt và vitamin A.
9. Cải Xanh
Giống như rau bina, cải xanh cũng là một loại rau giàu canxi. Một đĩa rau cải xanh chứa 25% lượng canxi hàng ngày. Đây cũng là một trong những thực phẩm phổ biến và dễ dùng.
10. Ngũ cốc
Nhiều loại ngũ cốc chứa tới 25% vitamin D lượng hàng ngày. Nếu ít có thời gian nấu nướng hay chọn các loại thực phẩm phức tạp, ngũ cốc là một lựa chọn sáng suốt.
11. Cam
Một ly nước cam ép không chứa canxi hay vitamin D, nhưng nó giúp cơ thể hấp thụ những chất dinh dưỡng này dễ dàng hơn.
Càng lớn tuổi, bạn sẽ càng quan tâm hơn đến sức khỏe của mình và loãng xương là điều lo lắng của tất cả mọi người. Bổ sung canxi và vitamin D bằng cách ăn những thực phẩm giàu canxi là cách làm hiệu quả và thông minh nhất mà nhiều người đã lựa chọn.
Ngoài bổ sung Canxi từ thực phẩm, bạn cũng có thể kết hợp sử dụng Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco giúp bổ sung Canxi hữu cơ một cách tự nhiên, an toàn từ các thảo dược thiên nhiên.
Ảnh minh họa
Theo tạp chí Health Magazine có hai chất dinh dưỡng quan trọng giúp xương chắc khỏe: canxi và vitamin D. Canxi hỗ trợ cấu trúc xương và răng, trong khi vitamin D cải thiện sự hấp thụ canxi và tăng trưởng xương. Tạp chí cũng tổng hợp lại những thực phẩm dinh dưỡng giúp cho xương chắc khỏe.
Người trưởng thành cho đến tuổi 50 nên có khoảng 1.000mg canxi và 200IU (đơn vị quốc tế) vitamin D mỗi ngày. Người trên 50 tuổi nên có 1.200mg canxi và 400 đến 600IU vitamin D mỗi ngày.
Những chất dinh dưỡng này quan trọng cho quá trình phát triển và trưởng thành, nhưng đồng thời chúng giúp ích khi bạn về già. Nếu bạn bị loãng xương, làm cho xương giòn và dễ gãy, hấp thụ nhiều canxi và vitamin D có thể giúp suy giảm bệnh.
1. Sữa chua
Hầu hết mọi người tổng hợp vitamin D thông qua tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, nhưng một số loại thực phẩm, như sữa chua, có thể giúp bổ sung vitamin D. Một cốc sữa chua mỗi ngày là cách đơn giản và sảng khoái nhất để bổ sung khoảng 20% lượng canxi và vitamin D mỗi ngày.
2. Sữa
250 ml sữa không béo sẽ cung cấp cho bạn khoảng 30% lượng canxi cần thiết mỗi ngày. Bạn cũng có thể chọn những sản phẩm sữa có bổ sung vitamin D. 3 ly sữa mỗi ngày là điều cần thiết, nếu không thể uống nhiều sữa, bạn có thể uống sinh tố có sữa hoặc sử dụng sữa với các món ăn khác.
3. Phô mai
Phô mai chứa nhiều canxi, nhưng bạn cũng không nên ăn quá lượng cần thiết. Khoảng 40 gram phô mai cheddar cung cấp đến 30% lượng canxi cần thiết hàng ngày. Hầu hết các loại pho mát đều chứa một lượng nhỏ vitamin D, nhưng không đủ cho nhu cầu hàng ngày của cơ thể.
4. Trứng
Dù lòng đỏ trứng chỉ chứa khoảng 6% lượng vitamin D cần thiết, nhưng đây là một trong những loại thực phẩm dễ mua, dễ chế biến và dễ ăn. Nhưng không nên lạm dụng việc sử dụng trứng, ăn quá nhiều trứng có thể mang lại một số tác hại đến sức khỏe của bạn.
5. Cá mòi
Cá mòi đóng hộp có giá trị dinh dưỡng rất cao, chúng cung cấp một lượng lớn vitamin D và canxi. Nhìn lạ mắt với mùi vị hấp dẫn sẽ mang lại cho thực đơn của bạn phong phú, mới lạ hơn.
6. Cá hồi
Cá hồi là một trong những loại thực phẩm ngon và mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng. Khoảng 1 lạng cá hồi đỏ có chứa tới hơn 100% lượng vitamin D cơ thể cần. Ngoài ra, trong cá hồi còn chứa nhiều axit béo omega-3 tốt cho tim mạch.
Xương khỏe nhờ cung cấp đủ canxi từ những thực phẩm giàu canxi.
7. Cá ngừ
Cá ngừ có chứa nhiều vitamin D. 85 gram cá ngừ đóng hộp cung cấp cho bạn đến 154 IU, khoảng gần 40% lượng vitamin D cần thiết cho cơ thể mỗi ngày. Ngoài ra cá ngừ cũng giúp bổ sung canxi cho cơ thể.
8. Rau bina
Rau bina hay còn gọi là rau chân vịt, rau bó xôi được bán tại nhiều cửa hàng rau sạch. Loại rau này rất giàu dinh dưỡng. Một đĩa rau bina chứa đến 25% lượng canxi hàng ngày, ngoài ra còn cung cấp thêm cho bạn chất xơ, sắt và vitamin A.
9. Cải Xanh
Giống như rau bina, cải xanh cũng là một loại rau giàu canxi. Một đĩa rau cải xanh chứa 25% lượng canxi hàng ngày. Đây cũng là một trong những thực phẩm phổ biến và dễ dùng.
10. Ngũ cốc
Nhiều loại ngũ cốc chứa tới 25% vitamin D lượng hàng ngày. Nếu ít có thời gian nấu nướng hay chọn các loại thực phẩm phức tạp, ngũ cốc là một lựa chọn sáng suốt.
11. Cam
Một ly nước cam ép không chứa canxi hay vitamin D, nhưng nó giúp cơ thể hấp thụ những chất dinh dưỡng này dễ dàng hơn.
Càng lớn tuổi, bạn sẽ càng quan tâm hơn đến sức khỏe của mình và loãng xương là điều lo lắng của tất cả mọi người. Bổ sung canxi và vitamin D bằng cách ăn những thực phẩm giàu canxi là cách làm hiệu quả và thông minh nhất mà nhiều người đã lựa chọn.
Ngoài bổ sung Canxi từ thực phẩm, bạn cũng có thể kết hợp sử dụng Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco giúp bổ sung Canxi hữu cơ một cách tự nhiên, an toàn từ các thảo dược thiên nhiên.
Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013
TOP 6 THỰC PHẨM ĐẨY LÙI LOÃNG XƯƠNG
Giàu canxi, vitamin D, protein và các chất chống ôxy hoá, một số thực phẩm có khả năng ngăn ngừa bệnh loãng xương và giảm mật độ xương sau tuổi 50.
Cá Hồi
Ngũ cốc
Với hàm lượng protein từ 8-14%, đạm thực vật trong ngũ cốc có khả năng chống lại sự “thăm hỏi” của bệnh loãng xương - giảm mật độ xương (cứ 4 phụ nữ sau tuổi 50 lại có một người bị loãng xương còn ở đàn ông tỉ lệ là 1/8).
Hãy xen kẽ vào thói quen ăn uống hàng ngày (bánh mì, bột mì, gạo…) bằng mầm lúa mì, rau quả sấy khô. Lưu ý: 100g mầm lúa mì mang đến 26g đạm, còn một nắm lúa mạch mang đến 14g đạm.
Sản phẩm từ sữa
Thực phẩm hàng đầu giúp bạn phòng tránh chứng loãng xương chính là các sản phẩm từ sữa! Vì chúng mang canxi đến cho xương – thành phần chính cẩu thành nên xương.
Sau tuổi 50, cơ thể chúng ta cần khoảng 1,2g canxi mỗi ngày, dàn đều ra trong ngày với mỗi lần tối đa 0,5g. Để đảm bảo nhu cầu canxi sau tuổi 50, cần tiêu thụ lượng sản phẩm từ sữa tương đương với 0,75lít sữa/ ngày. Ví dụ: 1 cốc sữa buổi sáng - 1 hũ sữa chua buổi trưa - 1 cốc sữa vào 5h chiều - 30 đến 50g phô mai vào bữa tối.
Cá hồi
Với hàm lượng vitamin D dồi dào (khoảng 12 đến 20 microgram trong 100g cá) tham gia tích cực vào sự tái tạo mật độ xương, cá hồi là 1 trong 6 thực phẩm giúp bạn phòng tránh bệnh loãng xương.
Bắt đầu từ tuổi 50, lượng vitamin D cần thiết cung cấp cho cơ thể mỗi ngày là 10 microgram. Hãy tiêu thụ cá hồi 2 lần/tuần để đảm bảo nhu cầu vitamin D cho cơ thể. Ngoài ra, phơi nắng cũng giúp cơ thể hấp thụ được một lượng nhỏ vitamin D qua da.
Giá đỗ
Hấp thu thức ăn làm từ đậu nành giúp giảm quá trình loãng xương ở phụ nữ sau giai đoạn mãn kinh, khi các thay đổi trong nội tiết tố của cơ thể có thể làm xương mỏng đi nhanh chóng và gia tăng nguy cơ gãy xương. Lý do là trong đậu nành có chứa phyto-oestrogen (hóc môn oestrogen thực vật), đặc biệt là isoflavon.
Trung bình, 100g giá đỗ chứa 35mg isoflavon….Tuy nhiên, chống chỉ định tiêu thụ quá 1mg isoflavon trên 1kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày (Ví dụ, tối đa 60mg cho một phụ nữ nặng 60kg).
Chè xanh
Với hàm lượng flavonoi (chất chống ôxy hoá) phong phú trong lá chè, chè xanh góp phần giảm nguy cơ loãng xương ở người cao tuổi. Thực vậy, theo các nghiên cứu khoa học, những người uống chè xanh trên 10 năm có mật độ xương dồi dào hơn những người khác.
Tuy nhiên, tránh uống quá 3 cốc nước chè/ngày vì trong chè có nhiều théin - một chất gây kích thích. Ở một số người, uống quá nhiều nước chè còn có thể gây đau đầu, thở gấp cũng như rối loạn tầm nhìn hay khó khăn về tiêu hoá.
Bắp cải
Bắp cải chứa vitamin K giúp tăng mật độ xương và ngăn ngừa sự rạn xương hông. Chính nhờ loại rau này, người dân đảo Okinawa ( Nhật Bản ) nằm trong nhóm những người có tuổi thọ cao nhất trên thế giới.
100g bắp cải mang tới 0,2mg vitamin K trong khi lượng vitamin K hàng ngày nên nạp vào cơ thể là 0,03 đến 1mg.
Ngoài việc bổ sung dinh dưỡng trong ăn uống, xu hướng đang được nhiều người quan tâm là lựa chọn các chế phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên để phòng ngừa loãng xương cho mình và người thân.
Thiên nhiên đã ưu đãi cho Việt Nam một nguồn dược liệu phong phú với gần 4000 loài thảo dược có tác dụng điều trị bệnh. Xuất phát từ quan điểm “Nam dược trị Nam nhân” của người được mệnh danh là ông tổ ngành dược Việt Nam – Thiền Sư Tuệ Tĩnh cùng với xu hướng sử dụng các sản phẩm thiên nhiên. Abfuco đã ra đời đánh dấu một bước tiến mới của Đông Y Việt Nam trong việc phòng ngừa loãng xương. Abfuco là sản phẩm do công ty CP Traphaco nghiên cứu và sản xuất thành công, xuất xứ từ bài thuốc Hổ tiềm hoàn nổi tiếng của các Danh Y trong điều trị xương khớp. Sản phẩm an toàn khi dùng lâu dài.
Phối hợp chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý và bổ sung Thực phẩm chức năng Abfucođể phòng ngừa loãng xương, giúp xương chắc khỏe.
Cá Hồi
Ngũ cốc
Với hàm lượng protein từ 8-14%, đạm thực vật trong ngũ cốc có khả năng chống lại sự “thăm hỏi” của bệnh loãng xương - giảm mật độ xương (cứ 4 phụ nữ sau tuổi 50 lại có một người bị loãng xương còn ở đàn ông tỉ lệ là 1/8).
Hãy xen kẽ vào thói quen ăn uống hàng ngày (bánh mì, bột mì, gạo…) bằng mầm lúa mì, rau quả sấy khô. Lưu ý: 100g mầm lúa mì mang đến 26g đạm, còn một nắm lúa mạch mang đến 14g đạm.
Sản phẩm từ sữa
Thực phẩm hàng đầu giúp bạn phòng tránh chứng loãng xương chính là các sản phẩm từ sữa! Vì chúng mang canxi đến cho xương – thành phần chính cẩu thành nên xương.
Sau tuổi 50, cơ thể chúng ta cần khoảng 1,2g canxi mỗi ngày, dàn đều ra trong ngày với mỗi lần tối đa 0,5g. Để đảm bảo nhu cầu canxi sau tuổi 50, cần tiêu thụ lượng sản phẩm từ sữa tương đương với 0,75lít sữa/ ngày. Ví dụ: 1 cốc sữa buổi sáng - 1 hũ sữa chua buổi trưa - 1 cốc sữa vào 5h chiều - 30 đến 50g phô mai vào bữa tối.
Cá hồi
Với hàm lượng vitamin D dồi dào (khoảng 12 đến 20 microgram trong 100g cá) tham gia tích cực vào sự tái tạo mật độ xương, cá hồi là 1 trong 6 thực phẩm giúp bạn phòng tránh bệnh loãng xương.
Bắt đầu từ tuổi 50, lượng vitamin D cần thiết cung cấp cho cơ thể mỗi ngày là 10 microgram. Hãy tiêu thụ cá hồi 2 lần/tuần để đảm bảo nhu cầu vitamin D cho cơ thể. Ngoài ra, phơi nắng cũng giúp cơ thể hấp thụ được một lượng nhỏ vitamin D qua da.
Giá đỗ
Hấp thu thức ăn làm từ đậu nành giúp giảm quá trình loãng xương ở phụ nữ sau giai đoạn mãn kinh, khi các thay đổi trong nội tiết tố của cơ thể có thể làm xương mỏng đi nhanh chóng và gia tăng nguy cơ gãy xương. Lý do là trong đậu nành có chứa phyto-oestrogen (hóc môn oestrogen thực vật), đặc biệt là isoflavon.
Trung bình, 100g giá đỗ chứa 35mg isoflavon….Tuy nhiên, chống chỉ định tiêu thụ quá 1mg isoflavon trên 1kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày (Ví dụ, tối đa 60mg cho một phụ nữ nặng 60kg).
Chè xanh
Với hàm lượng flavonoi (chất chống ôxy hoá) phong phú trong lá chè, chè xanh góp phần giảm nguy cơ loãng xương ở người cao tuổi. Thực vậy, theo các nghiên cứu khoa học, những người uống chè xanh trên 10 năm có mật độ xương dồi dào hơn những người khác.
Tuy nhiên, tránh uống quá 3 cốc nước chè/ngày vì trong chè có nhiều théin - một chất gây kích thích. Ở một số người, uống quá nhiều nước chè còn có thể gây đau đầu, thở gấp cũng như rối loạn tầm nhìn hay khó khăn về tiêu hoá.
Bắp cải
Bắp cải chứa vitamin K giúp tăng mật độ xương và ngăn ngừa sự rạn xương hông. Chính nhờ loại rau này, người dân đảo Okinawa ( Nhật Bản ) nằm trong nhóm những người có tuổi thọ cao nhất trên thế giới.
100g bắp cải mang tới 0,2mg vitamin K trong khi lượng vitamin K hàng ngày nên nạp vào cơ thể là 0,03 đến 1mg.
Ngoài việc bổ sung dinh dưỡng trong ăn uống, xu hướng đang được nhiều người quan tâm là lựa chọn các chế phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên để phòng ngừa loãng xương cho mình và người thân.
Thiên nhiên đã ưu đãi cho Việt Nam một nguồn dược liệu phong phú với gần 4000 loài thảo dược có tác dụng điều trị bệnh. Xuất phát từ quan điểm “Nam dược trị Nam nhân” của người được mệnh danh là ông tổ ngành dược Việt Nam – Thiền Sư Tuệ Tĩnh cùng với xu hướng sử dụng các sản phẩm thiên nhiên. Abfuco đã ra đời đánh dấu một bước tiến mới của Đông Y Việt Nam trong việc phòng ngừa loãng xương. Abfuco là sản phẩm do công ty CP Traphaco nghiên cứu và sản xuất thành công, xuất xứ từ bài thuốc Hổ tiềm hoàn nổi tiếng của các Danh Y trong điều trị xương khớp. Sản phẩm an toàn khi dùng lâu dài.
Phối hợp chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý và bổ sung Thực phẩm chức năng Abfucođể phòng ngừa loãng xương, giúp xương chắc khỏe.
CÁC THUỐC SỬ DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY-TÁ TRÀNG
Loét dạ dày-tá tràng là một bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở nước ta. Để điều trị người ta dựa trên cơ sở sinh lý bệnh để loại trừ các yếu tố gây bệnh làm bình thường hoá chức năng của dạ dày, loại trừ các bệnh kèm theo và tăng cường các quá trình tái tạo niêm mạc.
Ảnh Minh Họa
Các antacid (thuốc chống acid): có tác dụng trung hoà acid dịch vị. Thường dùng là: các muối nhôm (hydroxyd, carbonat, phosphat), các muối magnesi (hydroxyd, carbonat, trisilicat) với các sản phẩm như alusi, maalox, gastropulgit... Nhóm thuốc này trước kia dùng phổ biến, có ưu điểm là tác dụng nhanh nên thường dùng để cắt các cơn đau và giảm các triệu chứng đầy bụng, khó tiêu. Không nên dùng các thuốc trung hoà quá mạnh và kéo dài vì dễ gây viêm dạ dày do kiềm hoá.
Nhược điểm của nhóm này là tác dụng ngắn (thường chỉ kéo dài khoảng 3 giờ), có nhiều tác dụng phụ và gây nên nhiều tương tác đối với các thuốc điều trị phối hợp nên không thuận tiện cho điều trị. Các hợp chất chứa nhôm thường gây táo bón, chứa magiê gây tiêu chảy (vì thế trong điều trị người ta thường dùng chế phẩm phối hợp cả hai loại này), hợp chất chứa nhôm dùng kéo dài gây xốp xương (do làm giảm hàm lượng phosphat). Những hợp chất chứa nhôm, canxi, magiê dễ tạo phức với một số thuốc, điển hình là kháng sinh nhóm cyclin, quinolon, gây cản trở hấp thu kháng sinh....
Các thuốc giảm tiết:
Các thuốc kháng thụ thể H2-histamin: thường dùng là cimetidin, ranitidin, famotidin, nizatidin. Các chất này có cấu trúc tương tự histamin nên cạnh tranh với histamin trên receptor tại tế bào viền của dạ dày và do đó ngăn cản sự tiết HCL. Các tác dụng không mong muốn của nhóm này là: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, tiêu chảy hoặc táo bón. Khi sử dụng cần chú ý: các thuốc có thể làm tăng pH dạ dày, ảnh hưởng đến mức độ và tốc độ hấp thu của các thuốc mà quá trình hấp thu phụ thuộc vào pH của dạ dày như ketoconazol, griseofulvin...
Thuốc ức chế bơm proton (omeprazol, lanzoprazol, pantoprazol): Các thuốc hiện dùng đều thuộc dẫn chất benzinmidazol có tác dụng chống tiết mạnh và kéo dài, ức chế bài tiết dịch vị tự nhiên và dịch vị tạo ra do các nguồn kích thích (bữa ăn, stress).
Do hoạt chất của thuốc kém bền vững trong môi trường acid nên các thuốc ức chế bơm proton thường được sản xuất dưới dạng viên bao tan trong ruột. Vì vậy khi uống không được nhai hoặc làm vỡ viên thuốc, phải nuốt nguyên viên thuốc, uống với một cốc nước to (khoảng 200ml). Thời gian uống thích hợp là cách xa bữa ăn (trước khi ăn sáng và trước giờ ngủ buổi tối).
Thuốc bảo vệ niêm mạc, băng bó ổ loét:
Thuốc băng ổ loét như alumini sacharose sulffat (sucralfat), khi chất này gặp HCL sẽ tạo thành một lớp dính quánh gắn lên ổ loét, chống lại tác động của acid, pepsin và mật; kích thích tiết chất nhày và bicarbonat, kích thích tổng hợp prostaglandin. Cần uống thuốc vào lúc trước khi ăn 1 giờ (để thuốc kịp bao vết loét trước khi thức ăn vào) và lúc đi ngủ.
Thuốc kích thích tiết chất nhày và bicarbonat như cam thảo (có trong thành phần của kavet), dimixen, teprenon (selbex), protaglandin E1 (misoprostol, cytotex).... Ngoài tác dụng kích thích tiết chất nhày và bicarbonate, thuốc còn tăng cường tuần hoàn máu cục bộ, không ảnh hưởng đến sự tiết dịch vị, không ảnh hưởng đến dược động học và tác dụng điều trị của các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), nên nó còn có tác dụng dự phòng loét đường tiêu hoá do sử dụng NSAID. Thời điểm uống thuốc nên uống vào bữa ăn và trước lúc đi ngủ.
Thuốc diệt vi khuẩn Helicobacter pylory (HP) bao gồm các loại: kháng sinh (amoxycilin, tetracyclin, clarythromycin), nhóm imidazol (metronidazol, tinidazol) và các hợp chất bismuth hữu cơ... Hiệu quả điều trị bệnh phụ thuộc nhiều vào khả năng tuân thủ điều trị bệnh của bệnh nhân. Bệnh nhân cần uống thuốc, tuân thủ đúng phác đồ điều trị.
Ảnh Minh Họa
Các antacid (thuốc chống acid): có tác dụng trung hoà acid dịch vị. Thường dùng là: các muối nhôm (hydroxyd, carbonat, phosphat), các muối magnesi (hydroxyd, carbonat, trisilicat) với các sản phẩm như alusi, maalox, gastropulgit... Nhóm thuốc này trước kia dùng phổ biến, có ưu điểm là tác dụng nhanh nên thường dùng để cắt các cơn đau và giảm các triệu chứng đầy bụng, khó tiêu. Không nên dùng các thuốc trung hoà quá mạnh và kéo dài vì dễ gây viêm dạ dày do kiềm hoá.
Nhược điểm của nhóm này là tác dụng ngắn (thường chỉ kéo dài khoảng 3 giờ), có nhiều tác dụng phụ và gây nên nhiều tương tác đối với các thuốc điều trị phối hợp nên không thuận tiện cho điều trị. Các hợp chất chứa nhôm thường gây táo bón, chứa magiê gây tiêu chảy (vì thế trong điều trị người ta thường dùng chế phẩm phối hợp cả hai loại này), hợp chất chứa nhôm dùng kéo dài gây xốp xương (do làm giảm hàm lượng phosphat). Những hợp chất chứa nhôm, canxi, magiê dễ tạo phức với một số thuốc, điển hình là kháng sinh nhóm cyclin, quinolon, gây cản trở hấp thu kháng sinh....
Các thuốc giảm tiết:
Các thuốc kháng thụ thể H2-histamin: thường dùng là cimetidin, ranitidin, famotidin, nizatidin. Các chất này có cấu trúc tương tự histamin nên cạnh tranh với histamin trên receptor tại tế bào viền của dạ dày và do đó ngăn cản sự tiết HCL. Các tác dụng không mong muốn của nhóm này là: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, tiêu chảy hoặc táo bón. Khi sử dụng cần chú ý: các thuốc có thể làm tăng pH dạ dày, ảnh hưởng đến mức độ và tốc độ hấp thu của các thuốc mà quá trình hấp thu phụ thuộc vào pH của dạ dày như ketoconazol, griseofulvin...
Thuốc ức chế bơm proton (omeprazol, lanzoprazol, pantoprazol): Các thuốc hiện dùng đều thuộc dẫn chất benzinmidazol có tác dụng chống tiết mạnh và kéo dài, ức chế bài tiết dịch vị tự nhiên và dịch vị tạo ra do các nguồn kích thích (bữa ăn, stress).
Do hoạt chất của thuốc kém bền vững trong môi trường acid nên các thuốc ức chế bơm proton thường được sản xuất dưới dạng viên bao tan trong ruột. Vì vậy khi uống không được nhai hoặc làm vỡ viên thuốc, phải nuốt nguyên viên thuốc, uống với một cốc nước to (khoảng 200ml). Thời gian uống thích hợp là cách xa bữa ăn (trước khi ăn sáng và trước giờ ngủ buổi tối).
Thuốc bảo vệ niêm mạc, băng bó ổ loét:
Thuốc băng ổ loét như alumini sacharose sulffat (sucralfat), khi chất này gặp HCL sẽ tạo thành một lớp dính quánh gắn lên ổ loét, chống lại tác động của acid, pepsin và mật; kích thích tiết chất nhày và bicarbonat, kích thích tổng hợp prostaglandin. Cần uống thuốc vào lúc trước khi ăn 1 giờ (để thuốc kịp bao vết loét trước khi thức ăn vào) và lúc đi ngủ.
Thuốc kích thích tiết chất nhày và bicarbonat như cam thảo (có trong thành phần của kavet), dimixen, teprenon (selbex), protaglandin E1 (misoprostol, cytotex).... Ngoài tác dụng kích thích tiết chất nhày và bicarbonate, thuốc còn tăng cường tuần hoàn máu cục bộ, không ảnh hưởng đến sự tiết dịch vị, không ảnh hưởng đến dược động học và tác dụng điều trị của các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), nên nó còn có tác dụng dự phòng loét đường tiêu hoá do sử dụng NSAID. Thời điểm uống thuốc nên uống vào bữa ăn và trước lúc đi ngủ.
Thuốc diệt vi khuẩn Helicobacter pylory (HP) bao gồm các loại: kháng sinh (amoxycilin, tetracyclin, clarythromycin), nhóm imidazol (metronidazol, tinidazol) và các hợp chất bismuth hữu cơ... Hiệu quả điều trị bệnh phụ thuộc nhiều vào khả năng tuân thủ điều trị bệnh của bệnh nhân. Bệnh nhân cần uống thuốc, tuân thủ đúng phác đồ điều trị.
Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013
THIỀN ĐỊNH VỚI SỨC KHỎE
Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng chức năng cơ thể.
Ảnh minh họa
Theo định nghĩa thông thường, thiền định là một kiểu thư giãn chủ động tích cực với hiệu quả cao nếu luyện tập đúng cách. Theo định nghĩa khoa học, thiền định là quá trình đạt tới sự tỉnh thức tuyệt đối trong trạng thái tĩnh, có được do luyện tập. Đó là trạng thái tập trung ức chế đồng đều cả nơron thần kinh cảm giác lẫn nơron thần kinh vận động, tập trung bắt đầu từ vỏ não và hệ thần kinh vận động.
Khác với thư giãn thông thường, thiền định có tác dụng điều chỉnh lớn đến mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại, cân bằng cơ thể với môi trường sống; kiểm soát quá trình quan hệ giữa nội giới và ngoại giới. Vì thế, ngoài tác dụng thư giãn, thiền định còn có tác dụng phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng các chức năng cơ thể mà chủ yếu là mất cân bằng giữa tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh.
Tác dụng thư giãn của thiền định có được đem lại là do người tập điều khiển vỏ não, chủ động ức chế hệ thần kinh động vật, từ đó dẫn đến ức chế hệ thần kinh thực vật mà trước tiên là các trung khu hô hấp, làm giảm nhịp thở kèm theo buông lỏng cơ. Khi đã ức chế sâu, thư giãn cơ sâu thì nhịp thở rất thấp, năng lượng tiêu hao xuống tối thiểu, cơ thể rơi vào tình trạng đông miên, hô hấp trên từng tế bào cơ thể đều giảm đến mức tối thiểu.
Ở những người có tập thiền (không kể các nhà tu hành chân chính), nhu cầu vật chất không lớn, một mặt vì sau khi tập, chuyển hóa cơ thể xuống thấp, tiêu hao năng lượng ít và hợp lý. Do đó, người tập thiền không có nhu cầu lớn cho các sinh hoạt. Người tập thiền tốt không cần ăn nhiều mặc dù khẩu vị của họ rất tốt, ăn rất ngon miệng. Không lấy gì làm lạ, các nhà tu hành chân chính tập thiền đạt đến mức tiêu hao năng lượng cơ thể xuống mức tối thiểu. Hằng ngày họ thường chỉ ăn một bữa vào chính ngọ mà vẫn lao động sinh hoạt bình thường.
Người tập thiền tốt đương nhiên sẽ tạo lập được trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, điều hòa được các nhu cầu sinh hoạt tinh thần, chủ động điều tiết được hệ thần kinh sinh dục, luôn luôn cân bằng giữa ý thức và tâm thức. Có lẽ vì thế mà chúng ta không thấy họ mắc các bệnh tâm sinh lý đặc biệt.
Khi ngồi thiền, các cơ quan trong cơ thể tương tác cân bằng nhau ở mức chuyển hóa rất thấp. Theo định luật phản hồi, nó tác động đến hệ thần kinh, đưa ra trạng thái tâm sinh lý của người thiền. Đỉnh cao của trạng thái sinh lý này là thời gian ngồi “nhập thiền”, tác dụng của nó không chỉ có trong lúc ngồi thiền mà còn kéo dài trong suốt cả ngày. Ngoài thời gian ngồi thiền, người tập vẫn duy trì trạng thái này bằng cách giữ sự cân bằng tương tác các cơ quan của cơ thể, được thực hiện bằng những hoạt động nhẹ nhàng tập trung không phân tâm trong suốt cả ngày.
Theo giáo sư Soto Yukimasa (Đại học Kyoto, Nhật Bản), thiền giúp tăng cường tính nhẫn nại, làm cho ý chí bền vững, tăng cường khả năng suy nghĩ, ổn định về tình cảm và mau chóng khiến đầu óc tỉnh táo, bình tĩnh. Nó cũng giúp nâng cao hứng thú và hiệu suất của hành động, hình thành nhân cách hoàn thiện hơn và đạt tới cảnh giới giác ngộ. Bác sĩ Hasegawa (Đại học Osaka) cho rằng việc tọa thiền sẽ phát triển sự tập trung của phần não bên trong, tức là phần dưới vỏ não, và tập trung sự hoạt động của vỏ não.
Theo Viện đại học Cologne (Đức), thiện định giúp người ta bớt nóng nảy, hung hăng, giảm bệnh về tinh thần và ham muốn khống chế, cấm đoán, ngăn cản người khác, giảm tính bất định. Nó làm tăng sức hòa hợp, thân thiện với người khác, biết kính nể người và tự chê mình, tăng sự tự tin, thỏa mãn, khả năng chịu đựng trong tình huống xấu, tăng tính quả quyết, tự tin...
Tóm lại, nghiên cứu của các tác giả gần giống nhau về trạng thái hoạt động của hệ thần kinh người tập thiền. Đó là trạng thái yên tĩnh, ổn định không xung đột của hệ thần kinh với biểu hiện: nhẫn nại, bền bỉ, tự tin, bình tĩnh, ổn định nhân cách, hoàn thiện tình cảm, đầu óc sảng khoái, thân thiện, hòa hợp với mọi người. Trạng thái yên tĩnh ổn định, sự ứng xử hợp tình hợp lý với sự việc và con người xung quanh chứng tỏ người tập thiền luôn vui vẻ về tâm hồn và khỏe mạnh về thể chất.
Khi chủ động giảm được tiêu thụ năng lượng, gốc tự do trong cơ thể cũng giảm theo; cơ thể cân bằng hoạt động tương tác các cơ quan. Sự cân bằng ổn định của cơ thể sẽ tác động trở lại não bộ theo định luật phản hồi, tạo trạng thái cân bằng ổn định cho hoạt động của vỏ não, tăng sức bền, sức chịu đựng và khả năng điều hòa, điều khiển cơ thể. Trạng thái thần kinh này giúp con người chống stress rất tốt.
Sức khỏe thể lực tốt cùng với trạng thái thần kinh ổn định sẽ làm cơ thể thích ứng tốt với môi trường sống và môi trường nhân văn. Đó là nền tảng của cơ sở phòng bệnh. Nếu sự cân bằng các cơ quan tương tác được duy trì, cơ thể sẽ không xảy ra những tai biến bất thường. Ví dụ: Nếu tương tác giữa cơ quan tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh được ổn định thì thường không xảy ra các tai biến về não.
Ảnh minh họa
Theo định nghĩa thông thường, thiền định là một kiểu thư giãn chủ động tích cực với hiệu quả cao nếu luyện tập đúng cách. Theo định nghĩa khoa học, thiền định là quá trình đạt tới sự tỉnh thức tuyệt đối trong trạng thái tĩnh, có được do luyện tập. Đó là trạng thái tập trung ức chế đồng đều cả nơron thần kinh cảm giác lẫn nơron thần kinh vận động, tập trung bắt đầu từ vỏ não và hệ thần kinh vận động.
Khác với thư giãn thông thường, thiền định có tác dụng điều chỉnh lớn đến mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại, cân bằng cơ thể với môi trường sống; kiểm soát quá trình quan hệ giữa nội giới và ngoại giới. Vì thế, ngoài tác dụng thư giãn, thiền định còn có tác dụng phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng các chức năng cơ thể mà chủ yếu là mất cân bằng giữa tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh.
Tác dụng thư giãn của thiền định có được đem lại là do người tập điều khiển vỏ não, chủ động ức chế hệ thần kinh động vật, từ đó dẫn đến ức chế hệ thần kinh thực vật mà trước tiên là các trung khu hô hấp, làm giảm nhịp thở kèm theo buông lỏng cơ. Khi đã ức chế sâu, thư giãn cơ sâu thì nhịp thở rất thấp, năng lượng tiêu hao xuống tối thiểu, cơ thể rơi vào tình trạng đông miên, hô hấp trên từng tế bào cơ thể đều giảm đến mức tối thiểu.
Người tập thiền tốt đương nhiên sẽ tạo lập được trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, điều hòa được các nhu cầu sinh hoạt tinh thần, chủ động điều tiết được hệ thần kinh sinh dục, luôn luôn cân bằng giữa ý thức và tâm thức. Có lẽ vì thế mà chúng ta không thấy họ mắc các bệnh tâm sinh lý đặc biệt.
Khi ngồi thiền, các cơ quan trong cơ thể tương tác cân bằng nhau ở mức chuyển hóa rất thấp. Theo định luật phản hồi, nó tác động đến hệ thần kinh, đưa ra trạng thái tâm sinh lý của người thiền. Đỉnh cao của trạng thái sinh lý này là thời gian ngồi “nhập thiền”, tác dụng của nó không chỉ có trong lúc ngồi thiền mà còn kéo dài trong suốt cả ngày. Ngoài thời gian ngồi thiền, người tập vẫn duy trì trạng thái này bằng cách giữ sự cân bằng tương tác các cơ quan của cơ thể, được thực hiện bằng những hoạt động nhẹ nhàng tập trung không phân tâm trong suốt cả ngày.
Theo giáo sư Soto Yukimasa (Đại học Kyoto, Nhật Bản), thiền giúp tăng cường tính nhẫn nại, làm cho ý chí bền vững, tăng cường khả năng suy nghĩ, ổn định về tình cảm và mau chóng khiến đầu óc tỉnh táo, bình tĩnh. Nó cũng giúp nâng cao hứng thú và hiệu suất của hành động, hình thành nhân cách hoàn thiện hơn và đạt tới cảnh giới giác ngộ. Bác sĩ Hasegawa (Đại học Osaka) cho rằng việc tọa thiền sẽ phát triển sự tập trung của phần não bên trong, tức là phần dưới vỏ não, và tập trung sự hoạt động của vỏ não.
Theo Viện đại học Cologne (Đức), thiện định giúp người ta bớt nóng nảy, hung hăng, giảm bệnh về tinh thần và ham muốn khống chế, cấm đoán, ngăn cản người khác, giảm tính bất định. Nó làm tăng sức hòa hợp, thân thiện với người khác, biết kính nể người và tự chê mình, tăng sự tự tin, thỏa mãn, khả năng chịu đựng trong tình huống xấu, tăng tính quả quyết, tự tin...
Tóm lại, nghiên cứu của các tác giả gần giống nhau về trạng thái hoạt động của hệ thần kinh người tập thiền. Đó là trạng thái yên tĩnh, ổn định không xung đột của hệ thần kinh với biểu hiện: nhẫn nại, bền bỉ, tự tin, bình tĩnh, ổn định nhân cách, hoàn thiện tình cảm, đầu óc sảng khoái, thân thiện, hòa hợp với mọi người. Trạng thái yên tĩnh ổn định, sự ứng xử hợp tình hợp lý với sự việc và con người xung quanh chứng tỏ người tập thiền luôn vui vẻ về tâm hồn và khỏe mạnh về thể chất.
Khi chủ động giảm được tiêu thụ năng lượng, gốc tự do trong cơ thể cũng giảm theo; cơ thể cân bằng hoạt động tương tác các cơ quan. Sự cân bằng ổn định của cơ thể sẽ tác động trở lại não bộ theo định luật phản hồi, tạo trạng thái cân bằng ổn định cho hoạt động của vỏ não, tăng sức bền, sức chịu đựng và khả năng điều hòa, điều khiển cơ thể. Trạng thái thần kinh này giúp con người chống stress rất tốt.
Sức khỏe thể lực tốt cùng với trạng thái thần kinh ổn định sẽ làm cơ thể thích ứng tốt với môi trường sống và môi trường nhân văn. Đó là nền tảng của cơ sở phòng bệnh. Nếu sự cân bằng các cơ quan tương tác được duy trì, cơ thể sẽ không xảy ra những tai biến bất thường. Ví dụ: Nếu tương tác giữa cơ quan tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh được ổn định thì thường không xảy ra các tai biến về não.
BƯỚC TIẾN MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP
Bệnh nhân Quách Thị Ngọc Sương, 47 tuổi, phát hiện bị bệnh cao huyết áp cách đây 20 năm. Với những triệu chứng nhức đầu liên tục, mệt mỏi kéo dài, bệnh nhân đã phải dùng thuốc liên tục 20 năm qua. Qua chẩn đoán, bác sĩ cho biết, bệnh nhân bị cao huyết áp do bị hẹp động mạch chủ. Để điều trị bệnh nhân, các bác sĩ đã được chỉ định đặt stent nong động mạch chủ qua da.
Ảnh minh họa
Đây là một kỹ thuật giảm thiểu xâm lấn được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa X-quang kết hợp với bác sĩ phẫu thuật tim mạch. Các bác sĩ sẽ mở một đường vào nhỏ trên da ở vùng đùi và đưa ống catheter qua động mạch đùi tới đoạn động mạch chủ bị hẹp và thực hiện nong đoạn động mạch chủ bị hẹp nhờ mảnh lưới bên trong có lò xo để nong đoạn động mạch đó.
Các bác sĩ khuyến cáo, bệnh lý hẹp động mạch chủ ngực sẽ khiến cho máu đến động mạch thận ít đi, gây nên cao huyết áp, đặc biệt thường gặp với người trẻ tuổi. Phương pháp đặt stent động mạch chủ là phương pháp mới, giúp bệnh nhân không phải trải qua cuộc phẫu thuật, vì vậy thời gian nằm viện sẽ ngắn hơn rất nhiều (từ 24-48 giờ sau khi làm thủ thuật, bệnh nhân có thể xuất viện). So với phương pháp mổ hở trước đây, phương pháp này cũng ít bị biến chứng hơn và không để lại vết mổ... Đây là một phương pháp đơn giản, nhưng hứa hẹn đạt hiệu quả cao trong điều trị cao huyết áp.
Ảnh minh họa
Đây là một kỹ thuật giảm thiểu xâm lấn được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa X-quang kết hợp với bác sĩ phẫu thuật tim mạch. Các bác sĩ sẽ mở một đường vào nhỏ trên da ở vùng đùi và đưa ống catheter qua động mạch đùi tới đoạn động mạch chủ bị hẹp và thực hiện nong đoạn động mạch chủ bị hẹp nhờ mảnh lưới bên trong có lò xo để nong đoạn động mạch đó.
LÀM SAO ĐỂ ĐẠT CON SỐ HUYẾT ÁP MỤC TIÊU?
Hiện nay trên thế giới có 1,5 tỉ người tăng huyết áp, gây chết 7 triệu người mỗi năm. Tỷ lệ tăng huyết áp ở người từ 25 tuổi trở lên tại Việt Nam hiện nay là 25%. Tăng huyết áp là sát nhân thầm lặng.
Ảnh minh họa
Làm sao để biết con số huyết áp?
Đo huyết áp bằng máy đo chuẩn và đúng quy trình. Huyết áp biểu hiện qua hai con số:
(1) huyết áp tâm thu [áp lực máu lúc tim co bóp]: bình thường là từ 90-139 mm Hg [milimet thủy ngân, đơn vị đo huyết áp].
(2) huyết áp tâm trương [áp lực máu lúc tim nghỉ co bóp]: bình thường là từ 60-89 mm Hg.
Chỉ số huyết áp là một trong số ít các chỉ số sức khỏe mà mỗi người nên nhớ. Huyết áp thay đổi theo tuổi tác và bệnh lý kèm theo; vì vậy, tốt nhất mỗi người nên đến cơ sở y tế để kiểm tra và ghi nhớ số huyết áp của mình.
Làm sao để đạt con số huyết áp mục tiêu?
Khi huyết áp tâm thu từ 140 mm Hg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mm Hg qua một quy trình chẩn đoán chuẩn thì xác định là tăng huyết áp; lúc đó, cần điều trị để đưa huyết áp về con số mục tiêu: huyết áp tâm thu dưới 140 mm Hg và huyết áp tâm trương dưới 90 mm Hg.
Điều trị tăng huyết áp bằng biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc
Biện pháp không dùng thuốc (gọi là thay đổi lối sống) do thầy thuốc tư vấn còn biện pháp dùng thuốc do thầy thuốc khám và kê toa cho người bệnh định kỳ. Mỗi người bệnh tuân thủ điều trị và hỏi thầy thuốc khi có bất cứ bất an nào chứ không nên tự làm “thầy thuốc” cho chính mình.
Biện pháp không dùng thuốc như sau:
• Bỏ hoặc không hút thuốc lá.
• Ăn thanh tịnh: ăn lạt (tổng lượng muối ăn vào mỗi ngày ít hơn 6 g); ăn nhiều rau, trái cây, cá; ăn ít thịt, mỗi tuần ăn chay một bữa.
• Rèn luyện thể lực mức độ trung bình: mỗi ngày 30-45 phút với các hình thức như đi bộ nhanh (7 km/giờ), đi xe đạp nhanh, chạy chậm, chơi bóng bàn, bơi. Không rèn luyện thể lực khi huyết áp cao (huyết áp tâm thu từ 160 mm Hg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 100 mm Hg trở lên) hoặc đang đợt cấp biến chứng tăng huyết áp.
• Giữ bình thản.
Thực trạng
Chỉ cần đo huyết áp là biết tình trạng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu trên bệnh nhân khoa Nội tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai cho biết 76% không biết con số huyết áp của mình. Thống kê tại Mỹ cho thấy 73% nhân viên y tế đo huyết áp sai. Nghiên cứu mới đây của Viện Tim mạch Quốc gia 52% người dân biết mình bị tăng huyết áp và 36% người tăng huyết áp đạt con số mục tiêu.
Như vậy, để biết con số huyết áp và đạt con số mục tiêu, đòi hỏi nỗ lực cá nhân phòng chống tăng huyết áp, nỗ lực nghề nghiệp của mỗi thầy thuốc và chính sách hiệu quả trong chiến lược ngăn chặn một trong các bệnh dịch thời đại-tăng huyết áp.
Ảnh minh họa
Làm sao để biết con số huyết áp?
Đo huyết áp bằng máy đo chuẩn và đúng quy trình. Huyết áp biểu hiện qua hai con số:
(1) huyết áp tâm thu [áp lực máu lúc tim co bóp]: bình thường là từ 90-139 mm Hg [milimet thủy ngân, đơn vị đo huyết áp].
(2) huyết áp tâm trương [áp lực máu lúc tim nghỉ co bóp]: bình thường là từ 60-89 mm Hg.
Chỉ số huyết áp là một trong số ít các chỉ số sức khỏe mà mỗi người nên nhớ. Huyết áp thay đổi theo tuổi tác và bệnh lý kèm theo; vì vậy, tốt nhất mỗi người nên đến cơ sở y tế để kiểm tra và ghi nhớ số huyết áp của mình.
Làm sao để đạt con số huyết áp mục tiêu?
Khi huyết áp tâm thu từ 140 mm Hg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mm Hg qua một quy trình chẩn đoán chuẩn thì xác định là tăng huyết áp; lúc đó, cần điều trị để đưa huyết áp về con số mục tiêu: huyết áp tâm thu dưới 140 mm Hg và huyết áp tâm trương dưới 90 mm Hg.
Điều trị tăng huyết áp bằng biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc
Biện pháp không dùng thuốc (gọi là thay đổi lối sống) do thầy thuốc tư vấn còn biện pháp dùng thuốc do thầy thuốc khám và kê toa cho người bệnh định kỳ. Mỗi người bệnh tuân thủ điều trị và hỏi thầy thuốc khi có bất cứ bất an nào chứ không nên tự làm “thầy thuốc” cho chính mình.
Biện pháp không dùng thuốc như sau:
• Bỏ hoặc không hút thuốc lá.
• Ăn thanh tịnh: ăn lạt (tổng lượng muối ăn vào mỗi ngày ít hơn 6 g); ăn nhiều rau, trái cây, cá; ăn ít thịt, mỗi tuần ăn chay một bữa.
• Rèn luyện thể lực mức độ trung bình: mỗi ngày 30-45 phút với các hình thức như đi bộ nhanh (7 km/giờ), đi xe đạp nhanh, chạy chậm, chơi bóng bàn, bơi. Không rèn luyện thể lực khi huyết áp cao (huyết áp tâm thu từ 160 mm Hg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 100 mm Hg trở lên) hoặc đang đợt cấp biến chứng tăng huyết áp.
• Giữ bình thản.
Thực trạng
Chỉ cần đo huyết áp là biết tình trạng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu trên bệnh nhân khoa Nội tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai cho biết 76% không biết con số huyết áp của mình. Thống kê tại Mỹ cho thấy 73% nhân viên y tế đo huyết áp sai. Nghiên cứu mới đây của Viện Tim mạch Quốc gia 52% người dân biết mình bị tăng huyết áp và 36% người tăng huyết áp đạt con số mục tiêu.
Như vậy, để biết con số huyết áp và đạt con số mục tiêu, đòi hỏi nỗ lực cá nhân phòng chống tăng huyết áp, nỗ lực nghề nghiệp của mỗi thầy thuốc và chính sách hiệu quả trong chiến lược ngăn chặn một trong các bệnh dịch thời đại-tăng huyết áp.
ĐỘT PHÁ TRONG HÓA TRỊ UNG THƯ KHÔNG GÂY TÁC DỤNG PHỤ
Các nhà khoa học Anh đã phát triển được một liệu pháp điều trị ung thư mới giúp tiêu diệt khối u mà không làm tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh. Phương pháp điều trị mới này có tên gọi là “bom thông minh” – loại thuốc có thể tìm đến và tiêu diệt các khối u mà không làm tổn thương những tế bào khỏe mạnh khác của cơ thể, do vậy hạn chế được các tác động phụ thường đi kèm với những thuốc dùng trong hóa trị hiện nay như: rụng tóc, buồn nôn và suy giảm hệ miễn dịch.
Giáo sư Laurence Patterson của Đại học Bradford, Anh cho biết: “Chúng tôi có một dạng “bom thông minh” sẽ chỉ kích hoạt ở khối u và không làm hại các tế bào bình thường”.
“Đây là một phương pháp điều trị ung thư mới có thể phát huy tác dụng ở hầu hết các loại ung thư. Chúng tôi đã thử nghiệm với ung thư ruột, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư phổi, ung thư vú và ung thư mô liên kết, tất cả đều có phản ứng với phương pháp điều trị mới này”, Patterson nói.
Thuốc này được phát triển dựa trên phiên bản cải tiến của loại thuốc điều trị ung thư hiện hành Coltrazine. Trong những tình huống bình thường, Coltrazine được chỉ định như một phần trong phác đồ hóa trị cho bệnh nhân, nhưng cùng với việc tấn công các tế bào ung thư, nó cũng có thể hủy hoại luôn các tế bào khỏe mạnh.
Nhóm của Patterson đã nghiên cứu khiến Coltrazine chỉ kích hoạt khi tiếp xúc với khối u bằng cách gắn một chuỗi Axit amin vào Coltrazine làm cho thuốc này bị trơ. Nhờ vậy, thuốc có thể di chuyển tự do khắp cơ thể nhưng sẽ không tiêu diệt bất cứ tế bào nào nó tiếp xúc. Chỉ khi tới vị trí của một khối u rắn, chuỗi Axit amin sẽ bị loại bỏ bằng một enzyme xuất hiện trên bề mặt tế bào ung thư có tên MMP-1. Tại thời điểm này, Coltrazine sẽ kích hoạt và có thể thực hiện công việc tiêu diệt các tế bào gần đó.
MMP1 được các khối u sử dụng để phá vỡ môi trường tế bào xung quanh và cho phép khối u xâm nhập vào tế bào bình thường. Nó cũng cho phép khối u tiếp cận với các chất dinh dưỡng và ô xi bằng cách hút nguồn cung máu vào nó.
“Nếu bạn “bỏ đói” được khối u, thì bạn sẽ triệt tiêu khả năng phát triển và di căn khắp cơ thể của nó”, Patterson nói.
GS. Laurence Patterson với thuốc trị ung thư “bom thông minh”-
giúp tiêu diệt khối u mà không làm tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh.
Trong các thí nghiệm ở chuột, Patterson đã khoanh vùng được thuốc chống ung thư vào đúng vị trí các khối u và do vậy hạn chế tác động của thuốc lên toàn bộ cơ thể. Tất cả các chú chuột khi được cấy tế bào ung thư người đều đã phản ứng với phương pháp điều trị mục tiêu này và các khối u được nhận thấy đã thu hẹp lại. Ở một nửa số chuột tham gia thí nghiệm, các khối đã biến mất hoàn toàn.
Việc sử dụng kỹ thuật này quan trọng ở chỗ nó có thể tìm đến các khối u nằm rải rác khắp cơ thể.
Paul Workman, Trưởng phòng điều trị của Viện nghiên cứu ung thư Anh nhận xét:“Phương pháp mới này rất hay ở chỗ, nó hướng tới các mạch máu nuôi dưỡng khối u tăng trường. Dự án mới chỉ ở giai đoạn đầu nhưng đã mang lại những kết quả rất hứa hẹn ở các mô hình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Nếu được đầu tư nghiên cứu ở quy mô lớn hơn, những thuốc dựa vào phương pháp này có thể rất hữu ích trong liệu pháp tổng hợp điều trị nhiều loại ung thư khác nhau”.
Các nhà khoa học Đại học Bradford hy vọng rằng, nếu đủ nguồn tài trợ, họ có thể bắt đầu giai đoạn 1 với việc phân phối thuốc cho các bệnh nhân tại những bệnh viện được chọn thử nghiệm trong vòng 18 tháng tới.
Giáo sư Laurence Patterson của Đại học Bradford, Anh cho biết: “Chúng tôi có một dạng “bom thông minh” sẽ chỉ kích hoạt ở khối u và không làm hại các tế bào bình thường”.
“Đây là một phương pháp điều trị ung thư mới có thể phát huy tác dụng ở hầu hết các loại ung thư. Chúng tôi đã thử nghiệm với ung thư ruột, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư phổi, ung thư vú và ung thư mô liên kết, tất cả đều có phản ứng với phương pháp điều trị mới này”, Patterson nói.
Thuốc này được phát triển dựa trên phiên bản cải tiến của loại thuốc điều trị ung thư hiện hành Coltrazine. Trong những tình huống bình thường, Coltrazine được chỉ định như một phần trong phác đồ hóa trị cho bệnh nhân, nhưng cùng với việc tấn công các tế bào ung thư, nó cũng có thể hủy hoại luôn các tế bào khỏe mạnh.
Nhóm của Patterson đã nghiên cứu khiến Coltrazine chỉ kích hoạt khi tiếp xúc với khối u bằng cách gắn một chuỗi Axit amin vào Coltrazine làm cho thuốc này bị trơ. Nhờ vậy, thuốc có thể di chuyển tự do khắp cơ thể nhưng sẽ không tiêu diệt bất cứ tế bào nào nó tiếp xúc. Chỉ khi tới vị trí của một khối u rắn, chuỗi Axit amin sẽ bị loại bỏ bằng một enzyme xuất hiện trên bề mặt tế bào ung thư có tên MMP-1. Tại thời điểm này, Coltrazine sẽ kích hoạt và có thể thực hiện công việc tiêu diệt các tế bào gần đó.
MMP1 được các khối u sử dụng để phá vỡ môi trường tế bào xung quanh và cho phép khối u xâm nhập vào tế bào bình thường. Nó cũng cho phép khối u tiếp cận với các chất dinh dưỡng và ô xi bằng cách hút nguồn cung máu vào nó.
“Nếu bạn “bỏ đói” được khối u, thì bạn sẽ triệt tiêu khả năng phát triển và di căn khắp cơ thể của nó”, Patterson nói.
GS. Laurence Patterson với thuốc trị ung thư “bom thông minh”-
giúp tiêu diệt khối u mà không làm tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh.
Trong các thí nghiệm ở chuột, Patterson đã khoanh vùng được thuốc chống ung thư vào đúng vị trí các khối u và do vậy hạn chế tác động của thuốc lên toàn bộ cơ thể. Tất cả các chú chuột khi được cấy tế bào ung thư người đều đã phản ứng với phương pháp điều trị mục tiêu này và các khối u được nhận thấy đã thu hẹp lại. Ở một nửa số chuột tham gia thí nghiệm, các khối đã biến mất hoàn toàn.
Việc sử dụng kỹ thuật này quan trọng ở chỗ nó có thể tìm đến các khối u nằm rải rác khắp cơ thể.
Paul Workman, Trưởng phòng điều trị của Viện nghiên cứu ung thư Anh nhận xét:“Phương pháp mới này rất hay ở chỗ, nó hướng tới các mạch máu nuôi dưỡng khối u tăng trường. Dự án mới chỉ ở giai đoạn đầu nhưng đã mang lại những kết quả rất hứa hẹn ở các mô hình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Nếu được đầu tư nghiên cứu ở quy mô lớn hơn, những thuốc dựa vào phương pháp này có thể rất hữu ích trong liệu pháp tổng hợp điều trị nhiều loại ung thư khác nhau”.
Các nhà khoa học Đại học Bradford hy vọng rằng, nếu đủ nguồn tài trợ, họ có thể bắt đầu giai đoạn 1 với việc phân phối thuốc cho các bệnh nhân tại những bệnh viện được chọn thử nghiệm trong vòng 18 tháng tới.
NHỮNG ĐIỀU "THÚ VỊ" VỀ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
Bạn sẽ không phải lo lắng về chứng viêm khớp dạng thấp nếu biết cách “chung sống hòa bình” với nó. Sau đây là những điều “thú vị” quanh chứng bệnh này có thể giúp bạn yên tâm hơn khi bị mắc viêm khớp dạng thấp.
Ảnh hưởng không giống nhau
Có nhiều loại viêm khớp mà phản ứng từ hệ miễn dịch gây ra đau ở các khớp và khó vận động. Ở viêm khớp dạng thấp, hệ miễn dịch hướng đến mô hoạt dịch ở các khớp.
Đây là một loại bệnh nhưng viêm khớp dạng thấp có ảnh hưởng khác nhau ở những người khác nhau. Một số ca nhẹ kéo dài một vài tháng hoặc một vài năm, nhưng sau đó sẽ biến mất.
Vẫn có một số trường hợp mắc bệnh khá nặng gây ra các cơn đau thường xuyên và phá hủy các khớp.
Một tin tốt lành là những năm gần đây, với những hiểu biết sâu sắc về căn bệnh này mà các bác sỹ đã có thể tìm ra các cách chữa trị khác nhau cho tất cả các loại viêm khớp dạng thấp.
Chữa trị là vấn đề ở từng cá nhân
Do các triệu chứng viêm khớp dạng thấp là khác nhau ở mỗi người nên cũng có những cách chữa trị khác nhau.
Bác sỹ sẽ trực tiếp thăm khám cho bạn để tìm ra cách chữa trị tốt nhất để xóa tan cơn đau, làm nhẹ chỗ viêm và ngăn ngừa sự phá hủy khớp tạm thời.
Phong cách sống thay đổi như chế độ ăn và các bài tập thể dục có thể giúp đỡ người bệnh, tuy nhiên hầu hết đều cần dùng đến thuốc để kiểm soát bệnh.
Phẫu thuật có thể giúp một số ca nặng
Một số loại phẫu thuật có thể chữa trị viêm khớp dạng thấp bao gồm chỉnh sửa các khớp và gân bị phá hủy hoặc thay thế chúng. Phương pháp phẫu thuật có thể an toàn và hiệu quả hơn.
Xóa tan lo lắng = xóa tan cơn đau
Lo lắng và áp lực tăng nguy cơ bị viêm khớp dạng thấp và thúc đẩy bệnh phát triển nhanh hơn.
Do vậy, bên cạnh các biện pháp chữa trị thì các “kỹ thuật thư giãn” cũng là những yếu tố xóa tan cơn đau và hồi phục hoạt động cho cơ thể. Bạn có thể hỏi bác sỹ một số bài tập để thư giãn.
Hệ xương có thể gặp nguy hiểm
Bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp có thể bị loãng xương và dễ gãy. Có thể là do các loại thuốc dùng để điều trị kháng viêm ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, phần xương gần khu vực khớp bị ảnh hưởng thường yếu nhất, do vậy gãy xương có thể xảy ra như hậu quả trực tiếp từ bệnh viêm khớp dạng thấp.
Bổ sung chế độ ăn giàu can-xi và vitamin D sẽ giúp bạn có bộ xương chắc khỏe. Ngoài các sản phẩm từ sữa, rau xanh, cá nước mặn và lòng đỏ trứng cũng là lựa chọn hoàn hảo cho bạn.
Từ bỏ thói quen hút thuốc lá
Thuốc lá không chỉ có hại cho phổi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Theo nghiên cứu đăng tải trên trang Annals of the Rheaumatic Diseases, các nhà nghiên cứu cho biết rằng 1/3 các trường hợp viêm khớp dạng thấp nặng có liên quan đến hút thuốc lá.
Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến tim
Cũng giống như hàm lượng cholesterol hay huyết áp cao, viêm khớp dạng thấp cũng có thể khiến tim bạn bị ảnh hưởng nguy hiểm. Điều này được giải thích do các khớp bị sưng sẽ lan rộng ra khắp cơ thể và dần đến tim. Trong một nghiên cứu gần đây trên tạp chí Journal of Internal Medicine, nguy cơ bị đau tim tăng 60% ở những người bị mắc chứng viêm khớp dạng thấp.
Hoàn toàn có thể “sống hòa bình” với chứng bệnh này
Duy trì các khớp luôn hoạt động sẽ có thể giúp xóa tan cơn đau và bảo vệ những bạn khỏi những biến chứng như bệnh tim. Hãy dành 30 phút mỗi ngày để có những bài tập luyện chuyên sâu vừa phải. Tập trung vào 3 loại vận động sau:
- Hoạt động tăng cường nhịp hô hấp và nhịp tim mà không ảnh hưởng đến các khớp như bơi, đi bộ.
- Hoạt động tăng cường sức mạnh cho cơ khớp nhưng các bài tập cân nặng nhằm giảm áp lực lên các khớp.
- Hoạt động cân bằng như đứng bằng một chân để giảm nguy cơ bị ngã.
Tuy nhiên cần có sắp xếp hợp lý và thời gian nghỉ ngơi phù hợp nhất.
Có nhiều loại viêm khớp mà phản ứng từ hệ miễn dịch gây ra đau ở các khớp và khó vận động. Ở viêm khớp dạng thấp, hệ miễn dịch hướng đến mô hoạt dịch ở các khớp.
Đây là một loại bệnh nhưng viêm khớp dạng thấp có ảnh hưởng khác nhau ở những người khác nhau. Một số ca nhẹ kéo dài một vài tháng hoặc một vài năm, nhưng sau đó sẽ biến mất.
Vẫn có một số trường hợp mắc bệnh khá nặng gây ra các cơn đau thường xuyên và phá hủy các khớp.
Một tin tốt lành là những năm gần đây, với những hiểu biết sâu sắc về căn bệnh này mà các bác sỹ đã có thể tìm ra các cách chữa trị khác nhau cho tất cả các loại viêm khớp dạng thấp.
Chữa trị là vấn đề ở từng cá nhân
Do các triệu chứng viêm khớp dạng thấp là khác nhau ở mỗi người nên cũng có những cách chữa trị khác nhau.
Bác sỹ sẽ trực tiếp thăm khám cho bạn để tìm ra cách chữa trị tốt nhất để xóa tan cơn đau, làm nhẹ chỗ viêm và ngăn ngừa sự phá hủy khớp tạm thời.
Phong cách sống thay đổi như chế độ ăn và các bài tập thể dục có thể giúp đỡ người bệnh, tuy nhiên hầu hết đều cần dùng đến thuốc để kiểm soát bệnh.
Phẫu thuật có thể giúp một số ca nặng
Một số loại phẫu thuật có thể chữa trị viêm khớp dạng thấp bao gồm chỉnh sửa các khớp và gân bị phá hủy hoặc thay thế chúng. Phương pháp phẫu thuật có thể an toàn và hiệu quả hơn.
Xóa tan lo lắng = xóa tan cơn đau
Lo lắng và áp lực tăng nguy cơ bị viêm khớp dạng thấp và thúc đẩy bệnh phát triển nhanh hơn.
Do vậy, bên cạnh các biện pháp chữa trị thì các “kỹ thuật thư giãn” cũng là những yếu tố xóa tan cơn đau và hồi phục hoạt động cho cơ thể. Bạn có thể hỏi bác sỹ một số bài tập để thư giãn.
Hệ xương có thể gặp nguy hiểm
Bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp có thể bị loãng xương và dễ gãy. Có thể là do các loại thuốc dùng để điều trị kháng viêm ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, phần xương gần khu vực khớp bị ảnh hưởng thường yếu nhất, do vậy gãy xương có thể xảy ra như hậu quả trực tiếp từ bệnh viêm khớp dạng thấp.
Bổ sung chế độ ăn giàu can-xi và vitamin D sẽ giúp bạn có bộ xương chắc khỏe. Ngoài các sản phẩm từ sữa, rau xanh, cá nước mặn và lòng đỏ trứng cũng là lựa chọn hoàn hảo cho bạn.
Từ bỏ thói quen hút thuốc lá
Thuốc lá không chỉ có hại cho phổi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Theo nghiên cứu đăng tải trên trang Annals of the Rheaumatic Diseases, các nhà nghiên cứu cho biết rằng 1/3 các trường hợp viêm khớp dạng thấp nặng có liên quan đến hút thuốc lá.
Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến tim
Cũng giống như hàm lượng cholesterol hay huyết áp cao, viêm khớp dạng thấp cũng có thể khiến tim bạn bị ảnh hưởng nguy hiểm. Điều này được giải thích do các khớp bị sưng sẽ lan rộng ra khắp cơ thể và dần đến tim. Trong một nghiên cứu gần đây trên tạp chí Journal of Internal Medicine, nguy cơ bị đau tim tăng 60% ở những người bị mắc chứng viêm khớp dạng thấp.
Hoàn toàn có thể “sống hòa bình” với chứng bệnh này
Duy trì các khớp luôn hoạt động sẽ có thể giúp xóa tan cơn đau và bảo vệ những bạn khỏi những biến chứng như bệnh tim. Hãy dành 30 phút mỗi ngày để có những bài tập luyện chuyên sâu vừa phải. Tập trung vào 3 loại vận động sau:
- Hoạt động tăng cường nhịp hô hấp và nhịp tim mà không ảnh hưởng đến các khớp như bơi, đi bộ.
- Hoạt động tăng cường sức mạnh cho cơ khớp nhưng các bài tập cân nặng nhằm giảm áp lực lên các khớp.
- Hoạt động cân bằng như đứng bằng một chân để giảm nguy cơ bị ngã.
Tuy nhiên cần có sắp xếp hợp lý và thời gian nghỉ ngơi phù hợp nhất.
4 LOẠI NƯỚC KHÔNG NÊN UỐNG KHI THỨC DẬY
Một ngày uống đủ 7-8 ly nước sẽ giúp khỏe hơn, da dẻ mịn màng hơn. Tuy nhiên khi thức dậy, có những loại nước bạn không nên uống.
Ảnh minh họa
Nước muối
Một số người nghĩ rằng uống nước muối loãng vào buổi sáng tốt cho sức khỏe nhưng đây là suy nghĩ sai lầm.
Nước muối, uống vào mùa hè khi mồ hôi ra nhiều là cần thiết, nhưng uống vào buổi sáng không mang lại lơi ích gì mà còn nguy hại cho sức khỏe.
Theo nghiên cứu, sau một đêm dài, cơ thể mất nhiều nước, nếu uống thêm nước muối loãng vào buổi sáng chỉ càng làm khô miệng và mất nước hơn. Hơn nữa, uống nước muối buổi sáng nguy hiểm cho những ai bị huyết áp cao.
Nước để quá lâu
Nước uống sau khi đun xong cũng chỉ uống trong thời gian ngắn, nếu để tuần này qua tuần khác các chất nitơ trong nước chuyển thành nitrite. Ngoài ra, khi để lâu không tránh khỏi sự xâm nhập vi khuẩn ô nhiễm, càng đẩy nhanh tiến độ phân hủy các chất hữu cơ có chứa nitơ, nitrit.Sau khi uống nước này, nitrite và hemoglobin sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của oxy trong máu.Vì vậy, nước để trong phích vài ngày, một số dư lượng trong nước thay đổi. Tốt nhất không nên để quá 24 giờ.Ngoài ra, nước đóng chai, nước tinh khiết, nước khoáng sau khi mở ba ngày cũng không nên uống.
Nước có ga, có tính kích thích
Buổi sáng sau khi thức dậy, không nên uống nước quả đóng hộp, coca cola, nước ngọt, cà phê, trà… . Nước giải khát có ga và nước coca cola có chứa acid citric làm tăng tốc độ bài tiết canxi làm canxi trong máu thấp hơn. Nếu duy trì thói quen này có thể gây ra thiếu hụt canxi.Nước trái cây, cà phê cũng hạn chế uống vào buổi sáng sớm, vì các chất này không thể bổ sung nước khi cơ thể đang thiếu hụt mà còn gây hại cho đường tiêu hóa.
Uống nước trực tiếp từ vòi
Dù là nước máy, nhưng không nên lấy nước trực tiếp từ vòi để uống vào buổi sáng, vì vẫn còn ô nhiễm và dư lượng vi sinh vật có thể ẩn một mối đe dọa đối với sức khỏe con người, gây bệnh viêm đường hô hấp cấp tính.A
Ảnh minh họa
Nước muối
Một số người nghĩ rằng uống nước muối loãng vào buổi sáng tốt cho sức khỏe nhưng đây là suy nghĩ sai lầm.
Nước muối, uống vào mùa hè khi mồ hôi ra nhiều là cần thiết, nhưng uống vào buổi sáng không mang lại lơi ích gì mà còn nguy hại cho sức khỏe.
Theo nghiên cứu, sau một đêm dài, cơ thể mất nhiều nước, nếu uống thêm nước muối loãng vào buổi sáng chỉ càng làm khô miệng và mất nước hơn. Hơn nữa, uống nước muối buổi sáng nguy hiểm cho những ai bị huyết áp cao.
Nước để quá lâu
Nước uống sau khi đun xong cũng chỉ uống trong thời gian ngắn, nếu để tuần này qua tuần khác các chất nitơ trong nước chuyển thành nitrite. Ngoài ra, khi để lâu không tránh khỏi sự xâm nhập vi khuẩn ô nhiễm, càng đẩy nhanh tiến độ phân hủy các chất hữu cơ có chứa nitơ, nitrit.Sau khi uống nước này, nitrite và hemoglobin sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của oxy trong máu.Vì vậy, nước để trong phích vài ngày, một số dư lượng trong nước thay đổi. Tốt nhất không nên để quá 24 giờ.Ngoài ra, nước đóng chai, nước tinh khiết, nước khoáng sau khi mở ba ngày cũng không nên uống.
Nước có ga, có tính kích thích
Buổi sáng sau khi thức dậy, không nên uống nước quả đóng hộp, coca cola, nước ngọt, cà phê, trà… . Nước giải khát có ga và nước coca cola có chứa acid citric làm tăng tốc độ bài tiết canxi làm canxi trong máu thấp hơn. Nếu duy trì thói quen này có thể gây ra thiếu hụt canxi.Nước trái cây, cà phê cũng hạn chế uống vào buổi sáng sớm, vì các chất này không thể bổ sung nước khi cơ thể đang thiếu hụt mà còn gây hại cho đường tiêu hóa.
Uống nước trực tiếp từ vòi
Dù là nước máy, nhưng không nên lấy nước trực tiếp từ vòi để uống vào buổi sáng, vì vẫn còn ô nhiễm và dư lượng vi sinh vật có thể ẩn một mối đe dọa đối với sức khỏe con người, gây bệnh viêm đường hô hấp cấp tính.A
ĐOÁN BỆNH QUA ĐÔI MẮT
Đôi mắt không chỉ là “cửa sổ tâm hồn”, Andrew, giám đốc Hiệp hội các chuyên gia Nhãn khoa Hoa Kỳ cho biết: bằng cách quan sát mắt có thể biết được nhiều tình trạng sức khỏe mà không cần phải thông qua xét nghiệm hay tiểu phẫu nào khác.
1. Lông mày mỏng: Cường giáp hoặc suy giáp
Lông mày sẽ dần dần mỏng đi theo tuổi tác. Tuy nhiên lông mày mỏng đi 1/3 là triệu chứng một bệnh của tuyến giáp (cường giáp hoặc suy giáp). Khi có các biểu hiện này, bạn nên tìm đến cơ sở y tế để được thăm khám trực tiếp để có kết luận chính xác.
2. Mụn lẹo trong mắt: Ung thư biểu mô tuyến bã
Nếu bạn có mụn lẹo xuất hiện bên trong và ngoài mí mắt (hordeolum) 3 tháng không biến mất hay xuất hiện ở cùng một nơi thì đó có thể là biểu hiện của ung thư biểu mô tuyến bã. Cần phải có thăm khám đầy đủ để có chẩn đoán sớm hoặc phẫu thuật cắt bỏ.
3. Điểm vàng ở mí mắt: Cholesterol cao
Điểm vàng hình thành trong mí mắt báo hiệu sự tích tụ chất béo và nồng độ cholesterol cao.
4. Mờ mắt, chảy nước mắt: Hội chứng thị lực máy tính
Sử dụng máy tính với tầm nhìn quá lâu sẽ bị mờ mắt, thậm chí chảy nước mắt sống và cảm giác khó chịu khác, đó là Hội chứng thị lực máy tính. Để giảm thiểu bạn cần tránh phản chiếu từ màn hình và tầm mắt. Màn hình phẳng LCD tốt hơn so với màn hình kiểu cũ.
Các chuyên gia khuyên bạn: bước thứ nhất trong hành trình bảo vệ mắt là hãy vận dụng nguyên tắc đơn giản 20-20-20. Cụ thể, sau khi dùng máy tính 20 phút, bạn phải nhìn ra xa khoảng 20 giây và nhìn tập trung tại môt điểm cố định cách xa 6m. Công cụ cài đặt một đồng hồ báo chuông trên mạng onlineclock.net sẽ giúp bạn tạo thói quen này. Cũng giống như bất kỳ một bài tập nào, việc luyện tập cho mắt này có tác dụng tốt nhất nếu bạn thực hiện đều đặn mỗi ngày.
5. Chảy nước mắt hoặc khô mắt: Viêm mí mắt
Chảy nước mắt, khô mắt hay mụn mắt… là một loạt các triệu chứng liên quan tới bệnh viêm mí mắt. Bạn cần có biện pháp giảm nhẹ triệu chứng bằng cách lau khô (chảy nước mắt) hoặc bổ sung độ ẩm (khô mắt) khoảng 5 phút mỗi lần. Nếu không bạn cần phải đến gặp bác sĩ.
6. Xuất hiện điểm mù trong tầm nhìn, lóa mắt hoặc các đường lượn sóng: Đau nửa đầu
Thay đổi lưu lượng máu não là nguyên nhân gây ra đau nửa đầu. Khi đang lái xe hay quan sát mà xuất hiện các triệu chứng trên thì ngay lập tức dừng lại để nghỉ ngơi. Các triệu chứng trên xuất hiện nhiều hơn 1 giờ thì nên đi khám bác sĩ. Nếu bị sốt kèm theo yếu cơ hoặc lời nói không rõ ràng bạn nên xem xét các nguy cơ đột quỵ và nhanh chóng tìm kiếm đến cơ sở y tế để được điều trị.
7. Ngứa, đỏ mắt: Dị ứng mắt
Đỏ mắt có kèm theo ho, hắt hơi, sổ mũi hoặc nghẹt mũi và các triệu chứng khác thì đó là dị ứng mắt. Chất gây dị ứng bao gồm: phấn hoa, bụi hoặc lông động vật,… Đề nghị tránh xa các chất gây dị ứng và sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sỹ.
8. Đột ngột thay đổi hình ảnh, tối mắt: Đột quỵ
Ngoài việc thay đổi hình ảnh, các triệu chứng đột quỵ bao gồm: các chi hoặc mặt (đặc biệt là ở một bên) tê liệt đột ngột, đi lại khó khăn, chóng mặt, mất thăng bằng, lời nói không rõ ràng hoặc đau đầu không chịu nổi thì đó là khuyến cáo ngay lập tức cần được gọi cấp cứu để được giúp đỡ, xử trí.
9. Sợ ánh sáng và khô mắt: Hội chứng Sjogren
Hội chứng Sjogren là một bệnh mạn tính có hệ thống tự miễn dịch ngoại tiết, thường gặp ở phụ nữ trên 40 tuổi bị viêm khớp dạng thấp hay bệnh lupus. Các triệu chứng sợ ánh sáng, khô mắt và khô miệng thường xảy ra đồng thời. Đề nghị uống nhiều nước và tìm đến sự chăm sóc của cơ sở y tế ngay lập tức.
1. Lông mày mỏng: Cường giáp hoặc suy giáp
Lông mày sẽ dần dần mỏng đi theo tuổi tác. Tuy nhiên lông mày mỏng đi 1/3 là triệu chứng một bệnh của tuyến giáp (cường giáp hoặc suy giáp). Khi có các biểu hiện này, bạn nên tìm đến cơ sở y tế để được thăm khám trực tiếp để có kết luận chính xác.
2. Mụn lẹo trong mắt: Ung thư biểu mô tuyến bã
Nếu bạn có mụn lẹo xuất hiện bên trong và ngoài mí mắt (hordeolum) 3 tháng không biến mất hay xuất hiện ở cùng một nơi thì đó có thể là biểu hiện của ung thư biểu mô tuyến bã. Cần phải có thăm khám đầy đủ để có chẩn đoán sớm hoặc phẫu thuật cắt bỏ.
3. Điểm vàng ở mí mắt: Cholesterol cao
Điểm vàng hình thành trong mí mắt báo hiệu sự tích tụ chất béo và nồng độ cholesterol cao.
4. Mờ mắt, chảy nước mắt: Hội chứng thị lực máy tính
Sử dụng máy tính với tầm nhìn quá lâu sẽ bị mờ mắt, thậm chí chảy nước mắt sống và cảm giác khó chịu khác, đó là Hội chứng thị lực máy tính. Để giảm thiểu bạn cần tránh phản chiếu từ màn hình và tầm mắt. Màn hình phẳng LCD tốt hơn so với màn hình kiểu cũ.
Các chuyên gia khuyên bạn: bước thứ nhất trong hành trình bảo vệ mắt là hãy vận dụng nguyên tắc đơn giản 20-20-20. Cụ thể, sau khi dùng máy tính 20 phút, bạn phải nhìn ra xa khoảng 20 giây và nhìn tập trung tại môt điểm cố định cách xa 6m. Công cụ cài đặt một đồng hồ báo chuông trên mạng onlineclock.net sẽ giúp bạn tạo thói quen này. Cũng giống như bất kỳ một bài tập nào, việc luyện tập cho mắt này có tác dụng tốt nhất nếu bạn thực hiện đều đặn mỗi ngày.
5. Chảy nước mắt hoặc khô mắt: Viêm mí mắt
Chảy nước mắt, khô mắt hay mụn mắt… là một loạt các triệu chứng liên quan tới bệnh viêm mí mắt. Bạn cần có biện pháp giảm nhẹ triệu chứng bằng cách lau khô (chảy nước mắt) hoặc bổ sung độ ẩm (khô mắt) khoảng 5 phút mỗi lần. Nếu không bạn cần phải đến gặp bác sĩ.
6. Xuất hiện điểm mù trong tầm nhìn, lóa mắt hoặc các đường lượn sóng: Đau nửa đầu
Thay đổi lưu lượng máu não là nguyên nhân gây ra đau nửa đầu. Khi đang lái xe hay quan sát mà xuất hiện các triệu chứng trên thì ngay lập tức dừng lại để nghỉ ngơi. Các triệu chứng trên xuất hiện nhiều hơn 1 giờ thì nên đi khám bác sĩ. Nếu bị sốt kèm theo yếu cơ hoặc lời nói không rõ ràng bạn nên xem xét các nguy cơ đột quỵ và nhanh chóng tìm kiếm đến cơ sở y tế để được điều trị.
7. Ngứa, đỏ mắt: Dị ứng mắt
Đỏ mắt có kèm theo ho, hắt hơi, sổ mũi hoặc nghẹt mũi và các triệu chứng khác thì đó là dị ứng mắt. Chất gây dị ứng bao gồm: phấn hoa, bụi hoặc lông động vật,… Đề nghị tránh xa các chất gây dị ứng và sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sỹ.
8. Đột ngột thay đổi hình ảnh, tối mắt: Đột quỵ
Ngoài việc thay đổi hình ảnh, các triệu chứng đột quỵ bao gồm: các chi hoặc mặt (đặc biệt là ở một bên) tê liệt đột ngột, đi lại khó khăn, chóng mặt, mất thăng bằng, lời nói không rõ ràng hoặc đau đầu không chịu nổi thì đó là khuyến cáo ngay lập tức cần được gọi cấp cứu để được giúp đỡ, xử trí.
9. Sợ ánh sáng và khô mắt: Hội chứng Sjogren
Hội chứng Sjogren là một bệnh mạn tính có hệ thống tự miễn dịch ngoại tiết, thường gặp ở phụ nữ trên 40 tuổi bị viêm khớp dạng thấp hay bệnh lupus. Các triệu chứng sợ ánh sáng, khô mắt và khô miệng thường xảy ra đồng thời. Đề nghị uống nhiều nước và tìm đến sự chăm sóc của cơ sở y tế ngay lập tức.
BỆNH UNG THƯ XƯƠNG
206 xương trong cơ thể có nhiều chức năng khác nhau. Xương có vai trò nâng đỡ và bảo vệ các tạng bên trong (hộp sọ bảo vệ não, xương sườn bảo vệ phổi). Những cơ bám vào xương khi co sẽ làm cơ thể di chuyển.
Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.
Ảnh minh họa
Tủy xương là mô mềm xốp nằm trong lòng nhiều xương, chúng tạo ra và lưu trữ tế bào máu.
Ung thư xương là gì?
Ung thư là một nhóm nhiều bệnh. Người ta đã biết hơn 100 loại ung thư khác nhau. Tất cả các loại ung thư có điểm chung: những tế bào trở nên bất thường, chúng tăng trưởng, phá hủy mô của cơ thể và lan rộng đến những cơ quan khác (di căn).
Những tế bào bình thường tạo ra mô theo một trình tự: trưởng thành, phân chia, và thay thế những tế bào già. Quá trình này giúp cơ thể tồn tại và phát triển. Nếu những tế bào mất khả năng kiểm soát sự tăng trưởng, chúng tăng trưởng quá nhanh và không theo trình tự nào cả. Chúng tạo ra nhiều mô. Một khối mô gọi là bướu. Bướu có thể lành hay ác tính.
Bướu lành tính không phải là ung thư. Chúng không lan rộng đến các cơ quan khác và hiếm khi đe doạ tính mạng. Bướu lành thường được cắt bỏ. Mặc dù những bướu xương lành tính thỉnh thoảng có thể tái phát, chúng có thể được phẫu thuật.
Bướu ác tính là ung thư. Nó có thể xâm lấn và phá huỷ những mô, tạng bình thường kế cận. Những tế bào ung thư cũng có thể tách ra khỏi bướu và đi vào máu. Chính vì vậy mà tại sao ung thư xương có thể di căn đến cơ quan khác.
Ung thư mà bắt đầu từ xương gọi là ung thư xương nguyên phát. Ung thư xương thường thấy nhất ở cánh tay và chân, nhưng có thể xảy ra ở mọi xương trong cơ thể.
Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.
Ung thư xương nguyên phát được gọi là “sarcoma”. Có nhiều loại sarcoma, mỗi thể bắt đầu từ một loại mô xương khác nhau. Thường thấy nhất là: sarcoma xương, Ewing’s sarcoma, và sarcoma sụn.
Sarcoma xương là loại thường thấy nhất của ung thư xương ở thiếu niên. Bệnh thường xuất hiện khoảng từ 10 đến 25 tuổi. Nammắc bệnh nhiều hơn nữ. Sarcoma xương thường xuất hiện ở đầu xương, nơi đó mô xương mới được hình thành ở tuổi thiếu niên. Sarcoma xương ảnh hưởng chủ yếu xương dài của cánh tay và chân.
Ewing’s sarcoma thường thấy khoảng 10- 25 tuổi. Thiếu niên bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ung thư này hình thành ở phần giữa (thân xương) của những xương lớn. Xương bị ảnh hưởng nhiều nhất là xương hông và xương dài ở đùi, tay. Ung thư này có thể xảy ra ở xương sườn.
Sarcoma sụn chủ yếu ở người lớn. Loại u này hình thành trong sụn (mô mềm dẻo xung quanh khớp).
Những loại ung thư xương khác bao gồm : sarcoma sợi, u tế bào khổng lồ ác tính, u sụn. Những người trên 30 tuổi hiếm khi mắc những loại này.
Ung thư xương nguyên phát thì hiếm. Mặt khác, ung thư xương thường do di căn từ các cơ quan khác. Khi điều này xảy ra, bệnh không được gọi là ung thư xương. Mỗi loại ung thư được đặt tên theo cơ quan hoặc mô bị ung thư nguyên phát. Điều trị ung thư xương thứ phát phụ thuộc vào loại ung thư nguyên phát và sự di căn của nó.
Ung thư bắt đầu từ cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu, và những mô liên kết hay nâng đỡ khác trong có thể gọi là sarcoma mô mềm. Bệnh xảy ra ở người lớn và trẻ em. Nhưng không bàn luận ở đây.
Leukemia, đa u tuỷ, và u lympho là ung thư bắt nguồn từ tế bào ở tủy xương. Đây là những bệnh khác nhau và không phải là ung thư xương.
Triệu chứng của ung thư xương?
Triệu chứng ung thư xương có khuynh hướng phát triển chậm. Phụ thuộc vào loại, vị trí, kích thước u.
Đau là triệu chứng thường thấy nhất của ung thư xương. Thỉnh thoảng là một u mềm, hơi đau trên xương có thể cảm giác được qua da. Vài trường hợp ung thư xương cản trở hoạt động bình thường. Ung thư xương có thể gây gãy xương.
Những triệu chứng trên không chắc là ung thư, nó có thể do nguyên nhân khác ít trầm trọng hơn. Ai gặp phải triệu chứng này nên tham vấn bác sĩ.
Chẩn đoán ung thư xương
Để chẩn đoán ung thư xương, bác sĩ sẽ hỏi tiền sử của bản thân và gia đình, và khám lâm sàng toàn diện. Ngoài ra còn kiểm tra tổng trạng, xét nghiệm máu, chụp x quang. X quang có thể cho thấy vị trí, kích thước và hình dạng u: U lành thường tròn, bờ rõ; ung thư xương thường có nhiều hình dạng và bờ không đều.
Nếu x quang thấy nghi ngờ ung thư xương, một số xét nghiệm chuyên biệt sau có thể được làm. Những xét nghiệm này còn cho biết ung thư xương di căn hay chưa.
Xạ hình xương cho thấy kích thước, hình dạng, và vị trí của vùng bất thường trên xương. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào máu. Xương hấp thu chất này và được phát hiện bởi một dụng cụ đặc biệt gọi là scan.
CT scan hay CAT scan là kỹ thuật x quang cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang của CT, nhờ một máy vi tính.
MRI (hình ảnh cộng hưởng từ) cũng cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang. MRI sử dụng từ trường rất mạnh liên kết với máy vi tính.
Chụp mạch máu là chụp x quang mạch máu. Chất cản quang được tiêm vào mạch máu vì vậy thấy chi tiết mạch máu, xét nghiệm này cũng được làm để giúp ích kế hoạch phẫu thuật.
Sinh thiết là cách chắc chắn để nói có ung thư hay không. Sinh thiết tốt nhất nên làm ở bệnh viện nơi có các bác sĩ kinh nghiệm về chẩn đoán ung thư xương. Bác sĩ lấy một mẫu mô từ u xương. Chuyên viên giải phẫu bệnh xem mẫu đó dưới kính hiển vi, nếu thấy ung thư thì anh ta có thể cho biết loại sarcoma và khả năng phát triển nhanh hay chậm.
Nếu đã chẩn đoán ung thư xương thì điều quan trọng cần xác định là nguyên phát hay thứ phát. Dữ kiện này rất quan trọng trong điều trị. Kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm, x quang, chụp cắt lớp (scan), và sinh thiết được sử dụng để phân chia ung thư. Giai đoạn ung thư xác định ung thư đã di căn hay chưa và bao nhiêu mô bị ảnh hưởng.
Điều trị ung thư xương?
Nhiều yếu tố được xem xét để quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Đó là : loại, vị trí, kích thước, sự lan rộng, tuổi tác, tổng trạng. Một kế hoạch điều trị được vạch ra phù hợp với nhu cầu mỗi bệnh nhân.
Các phương pháp điều trị
Đó là: phẫu thuật xạ trị, hoá trị. Bác sĩ thường phối hợp phương pháp điều trị phụ thuộc sự cần thiết của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được giới thiệu đến những bác sĩ chuyên về điều trị các loại ung thư. Thường thường, các chuyên gia làm việc với nhau như một đội; gồm: phẫu thuật viên, chuyên gia ung thư ở nhi và chuyên gia xạ trị.
Phẫu thuật là một phần của điều trị ung thư xương. Bởi vì, bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu, phẫu thuật viên lấy u và một phần xương lành và mô lành khác xung quanh u.
Khi ung thư xương ở một cánh tay hay chân, phẫu thuật viên cố gắng lấy u và một vùng mô lành xung quanh u. Thỉnh thoảng phẫu thuật viên có thể sử dụng một dụng cụ kim loại để thay thế phần xương bị lấy đi. Ở trẻ em, thay thế dụng cụ kim loại có thể kéo dài khi trẻ lớn. Cách thức bảo tồn chi này cần nhiều lần phẫu thuật để giữ sự kéo dài chi nhân tạo.
Tuy nhiên, khi u lớn có lẽ đoạn chi là cần thiết. Nếu đoạn chi thì cần làm chi giả: chân, cánh tay, bàn tay, bàn chân.
Hoá trị là dùng thuốc giết tế bào ung thư. Thường phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu. Thuốc theo dòng máu đi khắp cơ thể. Hoá trị được tiến hành nhiều đợt: sau một đợt điều trị là một khoảng thời gian hồi phục, tiếp sau đó là một điều trị mới và tiếp tục nhiều đợt.
Một số bệnh nhân điều trị hoá trị ngoại trú bệnh viện, dưỡng đường, hay phòng khám tại nhà của bác sĩ. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc điều trị bệnh nhân cần phải ở trong bệnh viện một thời gian ngắn.
Hoá trị luôn phối hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hoá trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật. Hoá trị còn là một điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật để diệt hết những tế bào ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể và phòng ngừa tái phát. Có khi bệnh nhân được hoá trị trước và sau phẫu thuật. Đối với vài loại ung thư xương hoá trị phối hợp với xạ trị. Hoá trị có thể được dùng để kiểm soát ung thư xương có di căn.
Xạ trị là dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Vài trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.
Bệnh nhân cần phải đến bệnh viện hay dưỡng đường mỗi ngày để xạ trị. Thường điều trị 5 ngày một tuần, trong 5 đến 8 tuần.
Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.
Ảnh minh họa
Tủy xương là mô mềm xốp nằm trong lòng nhiều xương, chúng tạo ra và lưu trữ tế bào máu.
Ung thư xương là gì?
Ung thư là một nhóm nhiều bệnh. Người ta đã biết hơn 100 loại ung thư khác nhau. Tất cả các loại ung thư có điểm chung: những tế bào trở nên bất thường, chúng tăng trưởng, phá hủy mô của cơ thể và lan rộng đến những cơ quan khác (di căn).
Những tế bào bình thường tạo ra mô theo một trình tự: trưởng thành, phân chia, và thay thế những tế bào già. Quá trình này giúp cơ thể tồn tại và phát triển. Nếu những tế bào mất khả năng kiểm soát sự tăng trưởng, chúng tăng trưởng quá nhanh và không theo trình tự nào cả. Chúng tạo ra nhiều mô. Một khối mô gọi là bướu. Bướu có thể lành hay ác tính.
Bướu lành tính không phải là ung thư. Chúng không lan rộng đến các cơ quan khác và hiếm khi đe doạ tính mạng. Bướu lành thường được cắt bỏ. Mặc dù những bướu xương lành tính thỉnh thoảng có thể tái phát, chúng có thể được phẫu thuật.
Bướu ác tính là ung thư. Nó có thể xâm lấn và phá huỷ những mô, tạng bình thường kế cận. Những tế bào ung thư cũng có thể tách ra khỏi bướu và đi vào máu. Chính vì vậy mà tại sao ung thư xương có thể di căn đến cơ quan khác.
Ung thư mà bắt đầu từ xương gọi là ung thư xương nguyên phát. Ung thư xương thường thấy nhất ở cánh tay và chân, nhưng có thể xảy ra ở mọi xương trong cơ thể.
Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.
Ung thư xương nguyên phát được gọi là “sarcoma”. Có nhiều loại sarcoma, mỗi thể bắt đầu từ một loại mô xương khác nhau. Thường thấy nhất là: sarcoma xương, Ewing’s sarcoma, và sarcoma sụn.
Sarcoma xương là loại thường thấy nhất của ung thư xương ở thiếu niên. Bệnh thường xuất hiện khoảng từ 10 đến 25 tuổi. Nammắc bệnh nhiều hơn nữ. Sarcoma xương thường xuất hiện ở đầu xương, nơi đó mô xương mới được hình thành ở tuổi thiếu niên. Sarcoma xương ảnh hưởng chủ yếu xương dài của cánh tay và chân.
Ewing’s sarcoma thường thấy khoảng 10- 25 tuổi. Thiếu niên bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ung thư này hình thành ở phần giữa (thân xương) của những xương lớn. Xương bị ảnh hưởng nhiều nhất là xương hông và xương dài ở đùi, tay. Ung thư này có thể xảy ra ở xương sườn.
Sarcoma sụn chủ yếu ở người lớn. Loại u này hình thành trong sụn (mô mềm dẻo xung quanh khớp).
Những loại ung thư xương khác bao gồm : sarcoma sợi, u tế bào khổng lồ ác tính, u sụn. Những người trên 30 tuổi hiếm khi mắc những loại này.
Ung thư xương nguyên phát thì hiếm. Mặt khác, ung thư xương thường do di căn từ các cơ quan khác. Khi điều này xảy ra, bệnh không được gọi là ung thư xương. Mỗi loại ung thư được đặt tên theo cơ quan hoặc mô bị ung thư nguyên phát. Điều trị ung thư xương thứ phát phụ thuộc vào loại ung thư nguyên phát và sự di căn của nó.
Ung thư bắt đầu từ cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu, và những mô liên kết hay nâng đỡ khác trong có thể gọi là sarcoma mô mềm. Bệnh xảy ra ở người lớn và trẻ em. Nhưng không bàn luận ở đây.
Leukemia, đa u tuỷ, và u lympho là ung thư bắt nguồn từ tế bào ở tủy xương. Đây là những bệnh khác nhau và không phải là ung thư xương.
Triệu chứng của ung thư xương?
Triệu chứng ung thư xương có khuynh hướng phát triển chậm. Phụ thuộc vào loại, vị trí, kích thước u.
Đau là triệu chứng thường thấy nhất của ung thư xương. Thỉnh thoảng là một u mềm, hơi đau trên xương có thể cảm giác được qua da. Vài trường hợp ung thư xương cản trở hoạt động bình thường. Ung thư xương có thể gây gãy xương.
Những triệu chứng trên không chắc là ung thư, nó có thể do nguyên nhân khác ít trầm trọng hơn. Ai gặp phải triệu chứng này nên tham vấn bác sĩ.
Chẩn đoán ung thư xương
Để chẩn đoán ung thư xương, bác sĩ sẽ hỏi tiền sử của bản thân và gia đình, và khám lâm sàng toàn diện. Ngoài ra còn kiểm tra tổng trạng, xét nghiệm máu, chụp x quang. X quang có thể cho thấy vị trí, kích thước và hình dạng u: U lành thường tròn, bờ rõ; ung thư xương thường có nhiều hình dạng và bờ không đều.
Nếu x quang thấy nghi ngờ ung thư xương, một số xét nghiệm chuyên biệt sau có thể được làm. Những xét nghiệm này còn cho biết ung thư xương di căn hay chưa.
Xạ hình xương cho thấy kích thước, hình dạng, và vị trí của vùng bất thường trên xương. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào máu. Xương hấp thu chất này và được phát hiện bởi một dụng cụ đặc biệt gọi là scan.
CT scan hay CAT scan là kỹ thuật x quang cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang của CT, nhờ một máy vi tính.
MRI (hình ảnh cộng hưởng từ) cũng cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang. MRI sử dụng từ trường rất mạnh liên kết với máy vi tính.
Chụp mạch máu là chụp x quang mạch máu. Chất cản quang được tiêm vào mạch máu vì vậy thấy chi tiết mạch máu, xét nghiệm này cũng được làm để giúp ích kế hoạch phẫu thuật.
Sinh thiết là cách chắc chắn để nói có ung thư hay không. Sinh thiết tốt nhất nên làm ở bệnh viện nơi có các bác sĩ kinh nghiệm về chẩn đoán ung thư xương. Bác sĩ lấy một mẫu mô từ u xương. Chuyên viên giải phẫu bệnh xem mẫu đó dưới kính hiển vi, nếu thấy ung thư thì anh ta có thể cho biết loại sarcoma và khả năng phát triển nhanh hay chậm.
Nếu đã chẩn đoán ung thư xương thì điều quan trọng cần xác định là nguyên phát hay thứ phát. Dữ kiện này rất quan trọng trong điều trị. Kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm, x quang, chụp cắt lớp (scan), và sinh thiết được sử dụng để phân chia ung thư. Giai đoạn ung thư xác định ung thư đã di căn hay chưa và bao nhiêu mô bị ảnh hưởng.
Điều trị ung thư xương?
Nhiều yếu tố được xem xét để quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Đó là : loại, vị trí, kích thước, sự lan rộng, tuổi tác, tổng trạng. Một kế hoạch điều trị được vạch ra phù hợp với nhu cầu mỗi bệnh nhân.
Đó là: phẫu thuật xạ trị, hoá trị. Bác sĩ thường phối hợp phương pháp điều trị phụ thuộc sự cần thiết của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được giới thiệu đến những bác sĩ chuyên về điều trị các loại ung thư. Thường thường, các chuyên gia làm việc với nhau như một đội; gồm: phẫu thuật viên, chuyên gia ung thư ở nhi và chuyên gia xạ trị.
Phẫu thuật là một phần của điều trị ung thư xương. Bởi vì, bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu, phẫu thuật viên lấy u và một phần xương lành và mô lành khác xung quanh u.
Khi ung thư xương ở một cánh tay hay chân, phẫu thuật viên cố gắng lấy u và một vùng mô lành xung quanh u. Thỉnh thoảng phẫu thuật viên có thể sử dụng một dụng cụ kim loại để thay thế phần xương bị lấy đi. Ở trẻ em, thay thế dụng cụ kim loại có thể kéo dài khi trẻ lớn. Cách thức bảo tồn chi này cần nhiều lần phẫu thuật để giữ sự kéo dài chi nhân tạo.
Tuy nhiên, khi u lớn có lẽ đoạn chi là cần thiết. Nếu đoạn chi thì cần làm chi giả: chân, cánh tay, bàn tay, bàn chân.
Hoá trị là dùng thuốc giết tế bào ung thư. Thường phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu. Thuốc theo dòng máu đi khắp cơ thể. Hoá trị được tiến hành nhiều đợt: sau một đợt điều trị là một khoảng thời gian hồi phục, tiếp sau đó là một điều trị mới và tiếp tục nhiều đợt.
Một số bệnh nhân điều trị hoá trị ngoại trú bệnh viện, dưỡng đường, hay phòng khám tại nhà của bác sĩ. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc điều trị bệnh nhân cần phải ở trong bệnh viện một thời gian ngắn.
Hoá trị luôn phối hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hoá trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật. Hoá trị còn là một điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật để diệt hết những tế bào ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể và phòng ngừa tái phát. Có khi bệnh nhân được hoá trị trước và sau phẫu thuật. Đối với vài loại ung thư xương hoá trị phối hợp với xạ trị. Hoá trị có thể được dùng để kiểm soát ung thư xương có di căn.
Xạ trị là dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Vài trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.
Bệnh nhân cần phải đến bệnh viện hay dưỡng đường mỗi ngày để xạ trị. Thường điều trị 5 ngày một tuần, trong 5 đến 8 tuần.
LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ
Loãng xương là một bệnh xương rất thường gặp. Hiện nay trên thế giới có khoảng 200 triệu người bị loãng xương. Loãng xương gặp ở cả hai giới nhưng nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.
Ảnh minh họa
Chỉ riêng ở Mỹ năm 1995 có hơn 25 triệu phụ nữ bị loãng xương, trong đó 1,5 triệu trường hợp gẫy xương do loãng xương với chi phí điều trị lên tới 8 tỷ USD hàng năm. Ở Việt Nam loãng xương chiếm tỷ lệ 13-15% phụ nữ sau mãn kinh.
Loãng xương có thể gây biến chứng nặng nề là gãy xương. LX không phải chỉ khu trú ở một vị trí nào mà đó là một bệnh lý toàn thân, có thể gây tổn thương ở nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể như cột sống, cổ xương đùi, xương cẳng tay, xương sườn, xương cánh chậu....
Ðặc điểm phát triển bộ xương
Chúng ta thường có cảm giác là xương ít hoạt động và ít thay đổi. Trên thực tế khung xương luôn thay đổi và được tạo mới ở mọi thời điểm. Từ khi sinh ra, em bé chỉ có chiều dài bộ khung xương là khoảng 50 cm, đúng bằng chiều cao. Tuy nhiên sau đó bộ xương của chúng ta liên tục phát triển, với quá trình tạo xương vượt trội hơn quá trình tiêu xương. Kết quả là chúng ta trở nên cao to, đạt đến sự lớn tối đa ở độ tuổi 20-22 của cuộc đời, khi mà bộ xương có khối lượng xương cao nhất, hay còn gọi là khối lượng xương đỉnh. Khối lượng xương đỉnh này còn duy trì cho đến độ tuổi 30. Sau đó quá trình huỷ xương dần trở nên chiếm ưu thế khiến khối lượng và chất lượng xương bị giảm sút theo thời gian, kết quả là hình thành chứng LX. Như vậy nguy cơ loãng xương phụ thuộc vào sự phát triển của khung xương (khối lượng xương đỉnh) và lượng xương mất khi ở giai đoạn lớn tuổi.
Và loãng xương ở phụ nữ
Bệnh LX thường xảy ra ở phụ nữ có tuổi. Ở phụ nữ trên 45 tuổi, loãng xương chiếm một số lượng lớn số ngày nằm viện, nhiều hơn tất cả các bệnh khác, bao gồm đái tháo đường, nhồi máu cơ tim và ung thư vú. Người ta đánh giá rằng sau 50 tuổi có 1 trong 3 phụ nữ sẽ là nạn nhân của tối thiểu một gãy xương do loãng xương trong quãng đời còn lại. Tỷ lệ LX ở phụ nữ trong độ tuổi 50-59 mới chỉ là 10%. Tuy nhiên tỷ lệ LX nhanh chóng tăng lên theo độ tuổi và đạt tới 70% ở phụ nữ trên 80 tuổi.
Người ta phân ra một thể riêng là LX ở phụ nữ sau mãn kinh. Phụ nữ sau mãn kinh từ 5-10 năm thường hay bị mất xương cột sống. Khi sự mất xương vượt quá ngưỡng gẫy xương là 11% thì sẽ xảy ra lún xẹp các cột sống, đặc biệt là cột sống vùng thắt lưng. Biểu hiện thường gặp là giảm chiều cao, gù lưng, đau cột sống, đau thần kinh liên sườn hay thần kinh tọa. Ở giai đoạn muộn, mất xương diễn ra ở cả các xương dài. Khi đó phụ nữ dễ bị gẫy cổ xương đùi hoặc gẫy các xương dài khác.
Tại sao nữ lại hay bị mắc bệnh LX hơn nam giới?
Đầu tiên là những phụ nữ có tiền sử gia đình bà hoặc mẹ bị loãng xương. Những phụ nữ này được thừa hưởng một bản sao bộ xương yếu ớt dễ gãy từ bà hay mẹ của họ.
Thứ hai là nữ giới có kích thước bộ xương nhỏ và khối lượng xương đỉnh thấp hơn nam. Đặc biệt người châu Á có nguy cơ cao hơn do khối xương nhỏ, thường gầy yếu và có lối sống tĩnh tại hơn nam giới. Họ cũng thường có chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, đặc biệt là khẩu phần canxi trong thức ăn thiếu. Tuy nhiên sau khi đạt khối lượng xương đỉnh tối đa vào độ tuổi 20, hàng năm phái nữ mất đi từ 1-3% khối lượng xương. Như vậy, nữ giới mất xương nhiều hơn 40% so với nam giới. Tình trạng mất xương này diễn ra nhanh hơn bắt đầu từ độ tuổi mãn kinh và gia tăng nhanh chóng trong 20 năm sau mãn kinh.
Thứ ba tình trạng mất kinh hay mãn kinh ở phụ nữ. Kinh nguyệt ở phụ nữ là một tấm gương phản ánh sức khoẻ sinh sản của họ, đảm bảo bởi hoạt động nhịp nhàng của hệ thống nội tiết, đặc biệt là vai trò của các hormon sinh dục. Tuy nhiên kinh nguyệt đồng thời cũng góp phần đánh giá sức khoẻ của xương. Những phụ nữ chơi thể thao chuyên nghiệp như vận động viên chạy Marathon, diễn viên balet thường bị mất kinh, đều giảm tỷ trọng xương. Phụ nữ mất kinh kéo dài trên 12 tháng; phụ nữ mãn kinh, hay mãn kinh sớm trước 45 tuổi, bị mất xương nhiều hơn và dễ mắc chứng loãng xương. Phẫu thuật cắt buồng trứng làm mất xương nhanh chóng (12%/năm).
Thứ tư là phụ nữ phải trải qua thời kỳ mang thai và cho con bú. Khi đó cơ thể họ phải cung cấp nguồn canxi rất lớn cho phát triển thai và cho nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó họ bị giảm lượng canxi nhanh chóng nếu không được cung cấp lượng canxi đầy đủ. Những người có từ ba con trở lên hay bị loãng xương.
Thứ năm là phụ nữ thường hay bị một số bệnh hệ thống như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp. Chính các bệnh này và các thuốc điều trị bệnh như corticoid là thủ phạm gây nên sự mất xương thái quá. Các bệnh nội tiết như đái tháo đường, cường cận giáp, bệnh lý tuyến giáp hay bệnh gan, thận, bệnh đường tiêu hoá cũng làm gia tăng nguy cơ LX.
Thứ sáu là đặc điểm cầu trúc và hình thái xương của phụ nữ. Xương bị loãng xương có tình trạng mỏng vỏ xương, rỗ trong vỏ xương, mỏng bè xương và đứt các liên kết gian bè.
Dự phòng LX như thế nào?
Mục tiêu dự phòng LX là tối ưu hóa khối lượng đỉnh của xương ngay từ khi còn trẻ, duy trì mật độ xương và giảm mất xương khi về già. Do vậy cần dự phòng LX càng sớm càng tốt, ngay từ giai đoạn bào thai. Chế độ dinh dưỡng cần điều độ, đa dạng, cân đối và hợp lý. Bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng và protein như thịt, cá, trứng, sữa. Cần ăn cả các loại thức ăn giàu chất khoáng như canxi, magiê, phospho, vitamin D. Cần ăn các loại sữa và sản phẩm sữa (sữa chua, phomát...) vì chúng có hàm lượng canxi cao, canxi sữa có độ đồng nhất cao, dễ hấp thu. Vitamin D trong sữa giúp cơ thể hấp thu tốt hơn canxi. Một lượng calcium và vitamin D vừa đủ cần thiết cho xương khoẻ. Tổng lượng calcium tiêu thụ mỗi ngày ít nhất là 1000mg. Bổ sung vitamin D 800UI/ngày nếu ít tiếp xúc ánh nắng. Ngoài ra bổ sung vitamin K, photpho, magiê làm tăng mức độ gắn canxi vào xương, tạo xương hiệu quả hơn. Vitamin K có trong các loại rau có lá xanh lục, đậu khô, dầu thực vật, đậu nành.
Tránh rượu, thuốc lá, café; Vận động thể lực hợp lý; Tập thể dục, aerobic và tập thể dục có tải trọng... Mục tiêu của ngăn ngừa và điều trị là giảm nguy cơ gãy xương do loãng xương. Cần tạo điều kiện thuận lợi trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày để giảm thiểu nguy cơ té ngã gãy xương.
Sử dụng thường xuyên những thực phẩm chức năng như Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco giúp tái tạo xương, giảm nguy cơ loãng xương, giúp xương chắc khỏe.
Ảnh minh họa
Chỉ riêng ở Mỹ năm 1995 có hơn 25 triệu phụ nữ bị loãng xương, trong đó 1,5 triệu trường hợp gẫy xương do loãng xương với chi phí điều trị lên tới 8 tỷ USD hàng năm. Ở Việt Nam loãng xương chiếm tỷ lệ 13-15% phụ nữ sau mãn kinh.
Loãng xương có thể gây biến chứng nặng nề là gãy xương. LX không phải chỉ khu trú ở một vị trí nào mà đó là một bệnh lý toàn thân, có thể gây tổn thương ở nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể như cột sống, cổ xương đùi, xương cẳng tay, xương sườn, xương cánh chậu....
Ðặc điểm phát triển bộ xương
Chúng ta thường có cảm giác là xương ít hoạt động và ít thay đổi. Trên thực tế khung xương luôn thay đổi và được tạo mới ở mọi thời điểm. Từ khi sinh ra, em bé chỉ có chiều dài bộ khung xương là khoảng 50 cm, đúng bằng chiều cao. Tuy nhiên sau đó bộ xương của chúng ta liên tục phát triển, với quá trình tạo xương vượt trội hơn quá trình tiêu xương. Kết quả là chúng ta trở nên cao to, đạt đến sự lớn tối đa ở độ tuổi 20-22 của cuộc đời, khi mà bộ xương có khối lượng xương cao nhất, hay còn gọi là khối lượng xương đỉnh. Khối lượng xương đỉnh này còn duy trì cho đến độ tuổi 30. Sau đó quá trình huỷ xương dần trở nên chiếm ưu thế khiến khối lượng và chất lượng xương bị giảm sút theo thời gian, kết quả là hình thành chứng LX. Như vậy nguy cơ loãng xương phụ thuộc vào sự phát triển của khung xương (khối lượng xương đỉnh) và lượng xương mất khi ở giai đoạn lớn tuổi.
Và loãng xương ở phụ nữ
Bệnh LX thường xảy ra ở phụ nữ có tuổi. Ở phụ nữ trên 45 tuổi, loãng xương chiếm một số lượng lớn số ngày nằm viện, nhiều hơn tất cả các bệnh khác, bao gồm đái tháo đường, nhồi máu cơ tim và ung thư vú. Người ta đánh giá rằng sau 50 tuổi có 1 trong 3 phụ nữ sẽ là nạn nhân của tối thiểu một gãy xương do loãng xương trong quãng đời còn lại. Tỷ lệ LX ở phụ nữ trong độ tuổi 50-59 mới chỉ là 10%. Tuy nhiên tỷ lệ LX nhanh chóng tăng lên theo độ tuổi và đạt tới 70% ở phụ nữ trên 80 tuổi.
Người ta phân ra một thể riêng là LX ở phụ nữ sau mãn kinh. Phụ nữ sau mãn kinh từ 5-10 năm thường hay bị mất xương cột sống. Khi sự mất xương vượt quá ngưỡng gẫy xương là 11% thì sẽ xảy ra lún xẹp các cột sống, đặc biệt là cột sống vùng thắt lưng. Biểu hiện thường gặp là giảm chiều cao, gù lưng, đau cột sống, đau thần kinh liên sườn hay thần kinh tọa. Ở giai đoạn muộn, mất xương diễn ra ở cả các xương dài. Khi đó phụ nữ dễ bị gẫy cổ xương đùi hoặc gẫy các xương dài khác.
Đầu tiên là những phụ nữ có tiền sử gia đình bà hoặc mẹ bị loãng xương. Những phụ nữ này được thừa hưởng một bản sao bộ xương yếu ớt dễ gãy từ bà hay mẹ của họ.
Thứ hai là nữ giới có kích thước bộ xương nhỏ và khối lượng xương đỉnh thấp hơn nam. Đặc biệt người châu Á có nguy cơ cao hơn do khối xương nhỏ, thường gầy yếu và có lối sống tĩnh tại hơn nam giới. Họ cũng thường có chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, đặc biệt là khẩu phần canxi trong thức ăn thiếu. Tuy nhiên sau khi đạt khối lượng xương đỉnh tối đa vào độ tuổi 20, hàng năm phái nữ mất đi từ 1-3% khối lượng xương. Như vậy, nữ giới mất xương nhiều hơn 40% so với nam giới. Tình trạng mất xương này diễn ra nhanh hơn bắt đầu từ độ tuổi mãn kinh và gia tăng nhanh chóng trong 20 năm sau mãn kinh.
Thứ ba tình trạng mất kinh hay mãn kinh ở phụ nữ. Kinh nguyệt ở phụ nữ là một tấm gương phản ánh sức khoẻ sinh sản của họ, đảm bảo bởi hoạt động nhịp nhàng của hệ thống nội tiết, đặc biệt là vai trò của các hormon sinh dục. Tuy nhiên kinh nguyệt đồng thời cũng góp phần đánh giá sức khoẻ của xương. Những phụ nữ chơi thể thao chuyên nghiệp như vận động viên chạy Marathon, diễn viên balet thường bị mất kinh, đều giảm tỷ trọng xương. Phụ nữ mất kinh kéo dài trên 12 tháng; phụ nữ mãn kinh, hay mãn kinh sớm trước 45 tuổi, bị mất xương nhiều hơn và dễ mắc chứng loãng xương. Phẫu thuật cắt buồng trứng làm mất xương nhanh chóng (12%/năm).
Thứ tư là phụ nữ phải trải qua thời kỳ mang thai và cho con bú. Khi đó cơ thể họ phải cung cấp nguồn canxi rất lớn cho phát triển thai và cho nuôi con bằng sữa mẹ. Do đó họ bị giảm lượng canxi nhanh chóng nếu không được cung cấp lượng canxi đầy đủ. Những người có từ ba con trở lên hay bị loãng xương.
Thứ năm là phụ nữ thường hay bị một số bệnh hệ thống như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp. Chính các bệnh này và các thuốc điều trị bệnh như corticoid là thủ phạm gây nên sự mất xương thái quá. Các bệnh nội tiết như đái tháo đường, cường cận giáp, bệnh lý tuyến giáp hay bệnh gan, thận, bệnh đường tiêu hoá cũng làm gia tăng nguy cơ LX.
Thứ sáu là đặc điểm cầu trúc và hình thái xương của phụ nữ. Xương bị loãng xương có tình trạng mỏng vỏ xương, rỗ trong vỏ xương, mỏng bè xương và đứt các liên kết gian bè.
Dự phòng LX như thế nào?
Mục tiêu dự phòng LX là tối ưu hóa khối lượng đỉnh của xương ngay từ khi còn trẻ, duy trì mật độ xương và giảm mất xương khi về già. Do vậy cần dự phòng LX càng sớm càng tốt, ngay từ giai đoạn bào thai. Chế độ dinh dưỡng cần điều độ, đa dạng, cân đối và hợp lý. Bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng và protein như thịt, cá, trứng, sữa. Cần ăn cả các loại thức ăn giàu chất khoáng như canxi, magiê, phospho, vitamin D. Cần ăn các loại sữa và sản phẩm sữa (sữa chua, phomát...) vì chúng có hàm lượng canxi cao, canxi sữa có độ đồng nhất cao, dễ hấp thu. Vitamin D trong sữa giúp cơ thể hấp thu tốt hơn canxi. Một lượng calcium và vitamin D vừa đủ cần thiết cho xương khoẻ. Tổng lượng calcium tiêu thụ mỗi ngày ít nhất là 1000mg. Bổ sung vitamin D 800UI/ngày nếu ít tiếp xúc ánh nắng. Ngoài ra bổ sung vitamin K, photpho, magiê làm tăng mức độ gắn canxi vào xương, tạo xương hiệu quả hơn. Vitamin K có trong các loại rau có lá xanh lục, đậu khô, dầu thực vật, đậu nành.
Tránh rượu, thuốc lá, café; Vận động thể lực hợp lý; Tập thể dục, aerobic và tập thể dục có tải trọng... Mục tiêu của ngăn ngừa và điều trị là giảm nguy cơ gãy xương do loãng xương. Cần tạo điều kiện thuận lợi trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày để giảm thiểu nguy cơ té ngã gãy xương.
Sử dụng thường xuyên những thực phẩm chức năng như Viên phòng ngừa loãng xương Abfuco giúp tái tạo xương, giảm nguy cơ loãng xương, giúp xương chắc khỏe.
LƯƠNG Y VIỆT NGA HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG NHÂN SÂM
Trong tứ đại bổ Đông Y, nhân sâm được xếp vào loại đầu tiên: sâm- nhung- quế- phụ. Với Tây Y, nhan samcó tên khoa học là Panax ginseng C. A. Mey., họ Nhân Sâm Araliaceae, họ ngũ gia bì. Trên thị trường có nhiều sản phẩm của nhân sâm như hồng sâm, bạch sâm, đại lực sâm. Trong số này, nổi bật nhất là Hồng Sâm vì là sản phẩm của nhân sâm chất lượng đã đạt đủ 6 năm tuổi.
Nhân sâm được Đông y xếp vào hàng thượng phẩm, nghĩa là vị thuốc có tác dụng tốt mà ít độc tính. Nhan sam là vị thuốc đứng đầu dòng thuốc “bổ khí” với những công dụng tuyệt vời được các sách cổ Đông Y ghi lại như đại bổ nguyên khí, ích huyết, sinh tân, định thần, ích trí… Từ hàng ngàn năm trước, Nhân Sâm đã được dùng để “bổ khí”, đặc biệt cho các trường hợp chân khí suy giảm, người mệt mỏi, vô lực, mới ốm dậy, trẻ em chậm lớn. Ngoài ra, người ta còn dùng nhan sam để tăng cường sinh lý, tăng khả năng hồi phục cơ thể.
Cách dùng Nhân Sâm thông dụng
Người lớn có thể dùng Nhân Sâm Độc Vị ngày 6 – 8g, dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc. Tuy nhiên, người ta thường dùng nhan sam phối hợp với các vị thuốc khác để tăng cường dược tính và hạn chế độc tính của nhân sâm. Một bài thuốc thông dụng kết hợp là nhân sâm 8g+ bạch truật, bạch linh, cam thảo, mỗi vị 4-6g, uống liền 2-3 tuần lễ mỗi ngày uống một thang.
Nam giới thường sử dụng nhân sâm dưới dạng rượu sâm. Đây là cách dùng có nhiều tiện lợi vì dễ thực hiện và khi ngâm nhân sâm với rượu cũng giúp cơ thể hấp thụ nhân sâm tốt hơn và giảm đáng kể các độc tính của nhan sam. Cách ngâm rượu nhân sâm thông thường là 40g nhan sam thái lát mỏng ngâm với 1 lít rượu trắng 30-35 độ trong 3 – 4 tuần. Nếu dùng nhân sâm nguyên củ ngâm thì sau thời gian khoảng 5-6 tuần là có thể dùng được. Sau khi dùng hết rượu sâm nước đầu thì tiếp tục ngâm lần 2 với 0,5 lít rượu trong 2-3 tuần lễ nữa. Ngày có thể dùng 2 – 3 lần, mỗi lần 30 -50ml, uống trước hoặc trong các bữa ăn.
Những điều cần lưu ý khi sử dụng nhân sâm
Lô sâm là phần gây ra các tác dụng phụ thường gặp khi dùng nhân sâm. Lô sâm chính là núm rễ của củ sâm, là phần đầu của “người”- “nhân” sâm. Người ta giữ lại lô sâm để giữ được các hoạt chất quý của nhân sâm khi chế biến và để tạo dáng cho củ nhân sâm. Lô sâm không có tác dụng bổ, mà ngược lại nó gây ra cảm giác buồn nôn cho người sử dụng. Do đó, mọi người cần cắt bỏ lô sâm trước khi sử dụng tươi hoặc ngâm rượu.
Kiến thức về nhân sâm từ xa xưa đã có một lời khuyên kinh điển là “Phúc thống phục nhân sâm tắc tử”. Sách cổ kể rằng, có một thầy thuốc sau khi cho một bệnh nhân bị đau bụng dùng nhân sâm thì người bệnh này bị tử vong. Người thầy thuốc này khi trị bệnh đã tra sách y thì thấy ghi “Phúc thống phục nhân sâm…”, tức là “đau bụng uống nhân sâm…”. Tuy nhiên, ông này đã bỏ sót 2 chữ cuối của câu hướng dẫn vì 2 chữ này được ghi ở trang sau. Hai chữ bị bỏ sót ở trang sau là “tắc tử”, nghĩa là “ sẽ chết”. Đầy đủ của câu dẫn trong sách y là “Đau bụng uống nhân sâm sẽ chết”.
Ngày nay, do nhân sâm không còn hiếm nên có rất nhiều người đã và đang sử dụng loại dược liệu quý này thường xuyên. Trên thực tế, nhiều người bị “đau bụng” do viêm gan, viêm dạ dày, viêm ruột co thắt, táo bón… vẫn dùng nhân sâm mà vẫn khỏe mạnh. Vậy phải hiểu “đau bụng” – “phúc thống” trong câu “phúc thống phục nhân sâm tắc tử” thế nào? Qua kinh nghiệm thực tế, khái niệm “phúc thống” trong trường hợp “tắc tử”- chết người này là chỉ các triệu chứng đau bụng thuộc “thể hàn”, đau bụng “tiết tả”, tức là đau bụng ỉa chảy, đầy bụng, trướng bụng. Nếu dùng nhan sam trong những trường hợp đau bụng kể trên sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, những người cao huyết áp cũng không nên dùng nhân sâm. Những người hay mất ngủ cần tránh dùng nhân sâm vào buổi chiều và buổi tối vì có thể làm tình trạng mất ngủ trở nên tồi tệ hơn.
Lương y Việt Nga
Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013
5 BÍ QUYẾT NGỪA LOÃNG XƯƠNG-GIÚP XƯƠNG CHẮC KHỎE
1.Chế độ dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò hết sức quan trọng: Nên tăng cường thực phẩm bổ dưỡng chứa nhiều Canxi và Vitamin D như sữa, sữa chua, sữa đậu nành, trứng, phomat…
2. Các bác sĩ khuyến cáo nên tập thể dục đều đặn hàng ngày. Đi bộ từ 30 - 60 phút đặc biệt tốt cho người mắc bệnh loãng xương.
3. Tránh hút thuốc và thức uống có cồn vì đây là những tác nhân làm hao hụt lượngCanxi nhanh nhất trong cơ thể.
4. Kiểm tra tình trạng xương định kỳ.
5. Nên sử dụng thường xuyên những thực phẩm chức năng có tác dụng giúp xương chắc khỏe.
Trên thị trường hiện có khá nhiều loại thuốc dùng cho loãng xương, phần lớn là thuốc tân dược phối hợp vitamin với canxi, sản phẩm dinh dưỡng dùng qua đường tiêu hóa, các loại nội tiết tố tổng hợp, các loại thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa xương (tăng tạo xương, giảm hủy xương). Thuốc tân dược khi dùng phải theo đúng liều lượng và thận trọng do thuốc thường có nhiều tác dụng phụ.
Gần đây một khuynh hướng được nhiều người thực hiện là dùng các sản phẩm thực phẩm chức năng để phòng ngừa loãng xương, xốp xương cho người cao tuổi và phụ nữ tiền mãn kinh, giúp xương chắc khỏe hơn.
2. Các bác sĩ khuyến cáo nên tập thể dục đều đặn hàng ngày. Đi bộ từ 30 - 60 phút đặc biệt tốt cho người mắc bệnh loãng xương.
3. Tránh hút thuốc và thức uống có cồn vì đây là những tác nhân làm hao hụt lượngCanxi nhanh nhất trong cơ thể.
4. Kiểm tra tình trạng xương định kỳ.
5. Nên sử dụng thường xuyên những thực phẩm chức năng có tác dụng giúp xương chắc khỏe.
Gần đây một khuynh hướng được nhiều người thực hiện là dùng các sản phẩm thực phẩm chức năng để phòng ngừa loãng xương, xốp xương cho người cao tuổi và phụ nữ tiền mãn kinh, giúp xương chắc khỏe hơn.
LOÃNG XƯƠNG-NHỮNG CON SỐ BÁO ĐỘNG
3.000.000 là con số hiện tại người Việt Nam đang mắc bệnh loãng xương. Loãng xương là tình trạng giảm khối lượng xương, giảm tỉ trọng xương tới mức làm cho xương trở nên giòn, hậu quả có thể dẫn đến gãy xương.
Ảnh minh họa
Loãng xương đã gây ra hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như lún xẹp, đau buốt và biến dạng cột sống, mất khả năng lao động. Biểu hiện lâm sàng thường thấy của loãng xương là: đau nhức xương khớp, đi lại khó khăn, gù vẹo cột sống, giảm chiều cao, gãy xương khi vận động hoặc sau những va chạm nhẹ. Bệnh được xác định khi đo mật độ chất khoáng trong xương theo chỉ số T-score. Nhờ phương pháp này có thể đánh giá khối lượng xương, theo dõi tiến triển của loãng xương, phát hiện nguy cơ biến chứng gãy xương:
Loãng xương T-score < - 2,5
Loãng xương nặng T-score < - 2,5 và có 1 hoặc nhiều xương gãy.
Tại Việt Nam, chi phí điều trị loãng xương hàng năm lên tới hàng trăm tỉ đồng. Số lượng người bị loãng xương đang ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Loãng xương hiện đang là gánh nặng rất lớn cho y tế cộng đồng.
Trên thế giới, 55% dân số ngoài 50 tuổi đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi loãng xương. Tại các nước giàu có nhất như Mỹ, hàng năm cũng có tới 2 triệu trường hợp bị gãy xương hông, xương sống, xương cổ tay, xương đùi do hậu quả của loãng xương; khiến chi phí điều trị lên tới hàng trăm tỉ USD - vượt quá khả năng chi trả của quốc gia. Loãng xương hiện được xem là căn bệnh mang tính toàn cầu. Do đó, việc phòng ngừa và điều trị loãng xương đang ngày càng trở nên cấp thiết!
Ảnh minh họa
Loãng xương đã gây ra hàng loạt hậu quả nghiêm trọng như lún xẹp, đau buốt và biến dạng cột sống, mất khả năng lao động. Biểu hiện lâm sàng thường thấy của loãng xương là: đau nhức xương khớp, đi lại khó khăn, gù vẹo cột sống, giảm chiều cao, gãy xương khi vận động hoặc sau những va chạm nhẹ. Bệnh được xác định khi đo mật độ chất khoáng trong xương theo chỉ số T-score. Nhờ phương pháp này có thể đánh giá khối lượng xương, theo dõi tiến triển của loãng xương, phát hiện nguy cơ biến chứng gãy xương:
Loãng xương nặng T-score < - 2,5 và có 1 hoặc nhiều xương gãy.
Tại Việt Nam, chi phí điều trị loãng xương hàng năm lên tới hàng trăm tỉ đồng. Số lượng người bị loãng xương đang ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Loãng xương hiện đang là gánh nặng rất lớn cho y tế cộng đồng.
Trên thế giới, 55% dân số ngoài 50 tuổi đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi loãng xương. Tại các nước giàu có nhất như Mỹ, hàng năm cũng có tới 2 triệu trường hợp bị gãy xương hông, xương sống, xương cổ tay, xương đùi do hậu quả của loãng xương; khiến chi phí điều trị lên tới hàng trăm tỉ USD - vượt quá khả năng chi trả của quốc gia. Loãng xương hiện được xem là căn bệnh mang tính toàn cầu. Do đó, việc phòng ngừa và điều trị loãng xương đang ngày càng trở nên cấp thiết!
VIÊM KHỚP-NỖI ÁM ẢNH TRONG MÙA ĐÔNG
Theo PGS.TS.BS Lê Anh Thư, Khoa Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy thống kê trong những năm gần đây của Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Mỹ cho thấy, các bệnh viêm khớp là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế cho con người.
“Đến 2020 sẽ có 90% các trường hợp thay khớp gối và khớp háng là do thoái hoá khớp cả về nguyên phát và thứ phát”- bác sĩ Thư cảnh báo.
Theo các chuyên gia y tế, tuổi thọ con người càng được nâng cao thì tỷ lệ các bệnh xương khớp ngày càng phổ biến.
Mùa đông với kiểu thời tiết lạnh, khô là thời điểm bệnh viêm khớp “bùng phát” gây ra những cơn đau dữ dội, đột ngột, sưng tấy tại các khớp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ sinh hoạt và làm việc của người bệnh.
Tỷ lệ mắc bệnh xương khớp đối với người cao tuổi chiếm tới 60% với nhiều tình trạng bệnh như thoái hóa khớp, loãng xương, đau cột sống thắt lưng, gout, ung thư xương... Biến dạng các khớp xương lâu ngày có thể gây thoái hóa xương khớp, nặng hơn có thể gây ung thư xương.
Lão hóa khớp là nguyên nhân gây ra các bệnh khớp ở người già. Khi sụn khớp “già đi” sẽ trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, lớp sụn mỏng dần, độ đàn hồi giảm, lượng dịch khớp có tác dụng bôi trơn các đầu khớp xương và sụn cũng dần cạn kiệt khiến các khớp xương khô, phát ra những tiếng kêu rắc khi vận động cơ thể, các cơ bắp xung quanh khớp bị viêm, đau và yếu đi.
Ngoài ra, có thể kể đến các tác nhân khác gây ra bệnh xương khớp như chấn thương, làm việc quá nặng hay quá ít vận động… Các khớp “chịu trách nhiệm” nâng đỡ cơ thể và vận động nhiều như khớp gối, háng, chậu và cột sống nằm trong nhóm có nguy cơ cao dễ mắc bệnh về khớp. Một số khớp khác có thể bị bệnh nhưng tỉ lệ ít hơn, đó là khớp ngón tay, ngón chân, cổ chân, cổ tay.
Bí quyết phòng tránh và điều trị xương khớp:
Đối với các bệnh viêm khớp, khi trời lạnh, người bệnh cần giữ ấm cơ thể, đặc biệt là chân tay, hạn chế ra ngoài khi trời quá lạnh, mưa phùn. Những người bị gout cần phải bỏ hẳn rượu, bia và hạn chế các món ăn giàu đạm, giàu chất béo. Bệnh nhân cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý để giúp xoa dịu cơn đau nhức xương khớp, tăng cường bổ sung thực phẩm giàu dinh dưỡng tốt cho hệ xương khớp như cá hồi, bắp cải, cà chua, ngũ cốc nguyên hạt…
Ngoài ra, bệnh nhân phải thường xuyên vận động để giúp khí huyết lưu thông dễ dàng và giúp cơ bắp rắn chắc, giúp xương đỡ quá tải “gồng gánh”. Để bảo vệ xương khớp, cần vận động hợp lý, không đứng lâu, ngồi lâu… Khi ngồi hoặc đứng nên giữ dáng thẳng, không gù, cong vẹo…
Trong điều trị xương khớp theo y học hiện đại, người bệnh thường được khuyên dùng các chế phẩm từ Glucosamin, Chondrointin như: Hecquyn Extra, Lubrex… bởi chúng có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh xương khớp hiệu quả, an toàn, làm giảm cơn đau, tăng cường các chất có lợi cho khớp.
Để giúp người mắc bệnh xương khớp có điều kiện tiếp cận những kiến thức và sản phẩm hỗ trợ điều trị xương khớp chất lượng cao, an toàn, giá cả tốt, Traphaco – công ty dược uy tín, trách nhiệm xã hội và hiện đại hàng đầu Việt Nam thường xuyên tổ chức các chương trình tư vấn sức khỏe xương khớp và tặng quà miễn phí trên cả nước, giúp người dân biết cách phòng ngừa các bệnh xương khớp bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt, sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên như Abfuco, Didicera… có tác dụng hỗ trợ tốt, an toàn khi sử dụng lâu dài.
Các sản phẩm này hiện có bán rộng rãi tại các hiệu thuốc trên toàn quốc.
“Đến 2020 sẽ có 90% các trường hợp thay khớp gối và khớp háng là do thoái hoá khớp cả về nguyên phát và thứ phát”- bác sĩ Thư cảnh báo.
Theo các chuyên gia y tế, tuổi thọ con người càng được nâng cao thì tỷ lệ các bệnh xương khớp ngày càng phổ biến.
Mùa đông với kiểu thời tiết lạnh, khô là thời điểm bệnh viêm khớp “bùng phát” gây ra những cơn đau dữ dội, đột ngột, sưng tấy tại các khớp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ sinh hoạt và làm việc của người bệnh.
Tỷ lệ mắc bệnh xương khớp đối với người cao tuổi chiếm tới 60% với nhiều tình trạng bệnh như thoái hóa khớp, loãng xương, đau cột sống thắt lưng, gout, ung thư xương... Biến dạng các khớp xương lâu ngày có thể gây thoái hóa xương khớp, nặng hơn có thể gây ung thư xương.
Lão hóa khớp là nguyên nhân gây ra các bệnh khớp ở người già. Khi sụn khớp “già đi” sẽ trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, lớp sụn mỏng dần, độ đàn hồi giảm, lượng dịch khớp có tác dụng bôi trơn các đầu khớp xương và sụn cũng dần cạn kiệt khiến các khớp xương khô, phát ra những tiếng kêu rắc khi vận động cơ thể, các cơ bắp xung quanh khớp bị viêm, đau và yếu đi.
Ngoài ra, có thể kể đến các tác nhân khác gây ra bệnh xương khớp như chấn thương, làm việc quá nặng hay quá ít vận động… Các khớp “chịu trách nhiệm” nâng đỡ cơ thể và vận động nhiều như khớp gối, háng, chậu và cột sống nằm trong nhóm có nguy cơ cao dễ mắc bệnh về khớp. Một số khớp khác có thể bị bệnh nhưng tỉ lệ ít hơn, đó là khớp ngón tay, ngón chân, cổ chân, cổ tay.
Bí quyết phòng tránh và điều trị xương khớp:
Đối với các bệnh viêm khớp, khi trời lạnh, người bệnh cần giữ ấm cơ thể, đặc biệt là chân tay, hạn chế ra ngoài khi trời quá lạnh, mưa phùn. Những người bị gout cần phải bỏ hẳn rượu, bia và hạn chế các món ăn giàu đạm, giàu chất béo. Bệnh nhân cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý để giúp xoa dịu cơn đau nhức xương khớp, tăng cường bổ sung thực phẩm giàu dinh dưỡng tốt cho hệ xương khớp như cá hồi, bắp cải, cà chua, ngũ cốc nguyên hạt…
Ngoài ra, bệnh nhân phải thường xuyên vận động để giúp khí huyết lưu thông dễ dàng và giúp cơ bắp rắn chắc, giúp xương đỡ quá tải “gồng gánh”. Để bảo vệ xương khớp, cần vận động hợp lý, không đứng lâu, ngồi lâu… Khi ngồi hoặc đứng nên giữ dáng thẳng, không gù, cong vẹo…
Trong điều trị xương khớp theo y học hiện đại, người bệnh thường được khuyên dùng các chế phẩm từ Glucosamin, Chondrointin như: Hecquyn Extra, Lubrex… bởi chúng có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh xương khớp hiệu quả, an toàn, làm giảm cơn đau, tăng cường các chất có lợi cho khớp.
Để giúp người mắc bệnh xương khớp có điều kiện tiếp cận những kiến thức và sản phẩm hỗ trợ điều trị xương khớp chất lượng cao, an toàn, giá cả tốt, Traphaco – công ty dược uy tín, trách nhiệm xã hội và hiện đại hàng đầu Việt Nam thường xuyên tổ chức các chương trình tư vấn sức khỏe xương khớp và tặng quà miễn phí trên cả nước, giúp người dân biết cách phòng ngừa các bệnh xương khớp bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt, sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên như Abfuco, Didicera… có tác dụng hỗ trợ tốt, an toàn khi sử dụng lâu dài.
Các sản phẩm này hiện có bán rộng rãi tại các hiệu thuốc trên toàn quốc.
Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013
THUỐC NHỎ MŨI PHẢI DÙNG ĐÚNG CÁCH
Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, khi chuyển mùa thì nóng lạnh thất thường nên hay gây ra viêm mũi họng. Hẳn là rất nhiều người đã từng dùng thuốc nhỏ mũi, xịt mũi do tự mua ở hiệu thuốc hoặc được bác sĩ kê đơn 1 lần rồi tự mua dùng những lần tiếp theo, nhưng liệu bạn có để ý các lọ thuốc này bao gồm những thành phần gì và dùng như thế nào để an toàn cho mũi?
Mỗi loại thuốc nhỏ, xịt mũi chứa các thành phần khác nhau và cách dùng chúng trong trường hợp nào, kéo dài bao lâu thì tốt cho mũi mà vẫn an toàn phụ thuộc vào chính các thành phần trong đó. Các thuốc xịt, nhỏ mũi dùng để điều trị triệu chứng của viêm mũi. Viêm mũi thường biểu hiện 3 triệu chứng chính là hắt hơi, chảy mũi và ngạt mũi. Dựa vào bản chất thành phần trong lọ thuốc xịt, nhỏ mũi thì trong hàng chục loại thuốc này có trên thị trường chỉ nằm gọn trong 4 nhóm sau:
Thuốc co mạch: ví dụ naphazoline, oxymethazoline, xylomethazoline. Đặc điểm chung của các thuốc này là có tính chất co mạch, qua đó làm giảm sung huyết các cuốn mũi, giúp thông mũi nhanh ngay sau khi dùng vài phút, tác dụng kéo dài từ 8-12 tiếng nên 1 ngày dùng 2-3 lần là đủ. Thuốc này chỉ có tác dụng làm thông mũi mà không có tác dụng đối với các triệu chứng khác của viêm mũi. Naphazoline gây co mạch rất mạnh nên không được dùng cho trẻ dưới 7 tuổi, ngoài ra do tác hại mạnh đến hệ thông lông chuyển ở niêm mạc mũi nên thuốc này hiện nay được khuyến cáo không nên dùng ngay cả với người lớn.
Oxymethazoline và xylomethazoline được thay thế và tin dùng hơn. Hai nhóm này có chế phẩm riêng theo hàm lượng dùng cho người lớn và trẻ nhỏ. Tuy nhiên, các thuốc co mạch đều có chung tác dụng phụ là làm mất tính đàn hồi niêm mạc mũi, gây phì đại cuốn mũi, nhất là khi dùng thường xuyên và kéo dài. Do đó, chỉ nên dùng khi thật sự ngạt mũi nhiều, ảnh hưởng đến thở và sinh hoạt, không nên dùng quá 7 ngày một đợt. Khi dùng quá 7 ngày mà vẫn ngạt mũi thì nên đến khám bác sĩ tai - mũi - họng.
Dùng thuốc nhỏ mũi phải an toàn cho mũi.
Các thuốc này chứa các corticosteroid tổng hợp có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, do đó có tác dụng giảm cả 3 triệu chứng là hắt hơi, chảy mũi và ngạt mũi. Các dòng thuốc này không có tác dụng ngay sau khi dùng, mà phải đợi sau 3-5 ngày dùng thuốc. Các dược chất này sau khi xịt vào mũi sẽ có tác dụng tại chỗ ở mũi, một phần sẽ được hấp thu vào máu chuyển hóa qua gan thành các chất không có hoạt tính, do đó không hoặc rất ít tác dụng phụ ảnh hưởng đến toàn thân như các thuốc dạng corticosteroid đường uống và tiêm.
Vì vậy, thuốc này có thể dùng kéo dài, thường được kê cho các loại viêm mũi mạn tính như viêm mũi dị ứng, viêm mũi vận mạch, polyp mũi… Tuy nhiên, thuốc vẫn có thể gây ra một số tác dụng phụ như rát mũi, khô mũi, chảy máu mũi, dùng lâu có thể nấm họng, với một số người nhạy cảm với các thành phần thuốc có thể gây buồn nôn và nôn, kích ứng dạ dày. Vì vậy, khi dùng thấy tình trạng trên phải thông báo cho bác sĩ.
Nước muối sinh lý: Là các chế phẩm chứa nước muối ở nồng độ đẳng trương so với dịch cơ thể người, có thể là từ các nguồn thiên nhiên (nước biển sâu) hoặc do tổng hợp. Chế phẩm này có tác dụng làm sạch mũi, làm loãng dịch tiết trong mũi và chống khô mũi. Các dịch tiết và bụi bẩn sẽ được tống ra khỏi mũi thông qua việc xì mũi, hắt hơi hoặc hút rửa mũi. Trên lý thuyết thì các chế phẩm này không có tác dụng phụ, dùng được cho phụ nữ có thai, cho con bú và trẻ sở sinh.
Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý vấn đề giữ vệ sinh các chai, lọ xịt nhỏ mũi, nhất là phần tiếp xúc với mũi để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng vào trong chai lọ, khi đó lần dùng tiếp theo vô tình đưa vi khuẩn này vào mũi khiến bệnh dai dẳng, kéo dài. Tốt nhất không nên dùng chung lọ xịt, nhỏ mũi. Thông thường khi đã mở lọ ra, với các lọ nhỏ mũi nước muối không nên dùng quá 1 ngày, với các lọ xịt phải kích hoạt, không nén khí, khi dùng không khí ra vào 2 chiều thì không nên dùng quá 1 tuần, với lọ xịt có nén khí, khi dùng nước muối ra theo 1 chiều thì có thể dùng được 1 tháng sau khi đã mở lọ.
Mỗi loại thuốc nhỏ, xịt mũi chứa các thành phần khác nhau và cách dùng chúng trong trường hợp nào, kéo dài bao lâu thì tốt cho mũi mà vẫn an toàn phụ thuộc vào chính các thành phần trong đó. Các thuốc xịt, nhỏ mũi dùng để điều trị triệu chứng của viêm mũi. Viêm mũi thường biểu hiện 3 triệu chứng chính là hắt hơi, chảy mũi và ngạt mũi. Dựa vào bản chất thành phần trong lọ thuốc xịt, nhỏ mũi thì trong hàng chục loại thuốc này có trên thị trường chỉ nằm gọn trong 4 nhóm sau:
Thuốc co mạch: ví dụ naphazoline, oxymethazoline, xylomethazoline. Đặc điểm chung của các thuốc này là có tính chất co mạch, qua đó làm giảm sung huyết các cuốn mũi, giúp thông mũi nhanh ngay sau khi dùng vài phút, tác dụng kéo dài từ 8-12 tiếng nên 1 ngày dùng 2-3 lần là đủ. Thuốc này chỉ có tác dụng làm thông mũi mà không có tác dụng đối với các triệu chứng khác của viêm mũi. Naphazoline gây co mạch rất mạnh nên không được dùng cho trẻ dưới 7 tuổi, ngoài ra do tác hại mạnh đến hệ thông lông chuyển ở niêm mạc mũi nên thuốc này hiện nay được khuyến cáo không nên dùng ngay cả với người lớn.
Oxymethazoline và xylomethazoline được thay thế và tin dùng hơn. Hai nhóm này có chế phẩm riêng theo hàm lượng dùng cho người lớn và trẻ nhỏ. Tuy nhiên, các thuốc co mạch đều có chung tác dụng phụ là làm mất tính đàn hồi niêm mạc mũi, gây phì đại cuốn mũi, nhất là khi dùng thường xuyên và kéo dài. Do đó, chỉ nên dùng khi thật sự ngạt mũi nhiều, ảnh hưởng đến thở và sinh hoạt, không nên dùng quá 7 ngày một đợt. Khi dùng quá 7 ngày mà vẫn ngạt mũi thì nên đến khám bác sĩ tai - mũi - họng.
Dùng thuốc nhỏ mũi phải an toàn cho mũi.
Các thuốc này chứa các corticosteroid tổng hợp có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, do đó có tác dụng giảm cả 3 triệu chứng là hắt hơi, chảy mũi và ngạt mũi. Các dòng thuốc này không có tác dụng ngay sau khi dùng, mà phải đợi sau 3-5 ngày dùng thuốc. Các dược chất này sau khi xịt vào mũi sẽ có tác dụng tại chỗ ở mũi, một phần sẽ được hấp thu vào máu chuyển hóa qua gan thành các chất không có hoạt tính, do đó không hoặc rất ít tác dụng phụ ảnh hưởng đến toàn thân như các thuốc dạng corticosteroid đường uống và tiêm.
Vì vậy, thuốc này có thể dùng kéo dài, thường được kê cho các loại viêm mũi mạn tính như viêm mũi dị ứng, viêm mũi vận mạch, polyp mũi… Tuy nhiên, thuốc vẫn có thể gây ra một số tác dụng phụ như rát mũi, khô mũi, chảy máu mũi, dùng lâu có thể nấm họng, với một số người nhạy cảm với các thành phần thuốc có thể gây buồn nôn và nôn, kích ứng dạ dày. Vì vậy, khi dùng thấy tình trạng trên phải thông báo cho bác sĩ.
Nước muối sinh lý: Là các chế phẩm chứa nước muối ở nồng độ đẳng trương so với dịch cơ thể người, có thể là từ các nguồn thiên nhiên (nước biển sâu) hoặc do tổng hợp. Chế phẩm này có tác dụng làm sạch mũi, làm loãng dịch tiết trong mũi và chống khô mũi. Các dịch tiết và bụi bẩn sẽ được tống ra khỏi mũi thông qua việc xì mũi, hắt hơi hoặc hút rửa mũi. Trên lý thuyết thì các chế phẩm này không có tác dụng phụ, dùng được cho phụ nữ có thai, cho con bú và trẻ sở sinh.
Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý vấn đề giữ vệ sinh các chai, lọ xịt nhỏ mũi, nhất là phần tiếp xúc với mũi để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng vào trong chai lọ, khi đó lần dùng tiếp theo vô tình đưa vi khuẩn này vào mũi khiến bệnh dai dẳng, kéo dài. Tốt nhất không nên dùng chung lọ xịt, nhỏ mũi. Thông thường khi đã mở lọ ra, với các lọ nhỏ mũi nước muối không nên dùng quá 1 ngày, với các lọ xịt phải kích hoạt, không nén khí, khi dùng không khí ra vào 2 chiều thì không nên dùng quá 1 tuần, với lọ xịt có nén khí, khi dùng nước muối ra theo 1 chiều thì có thể dùng được 1 tháng sau khi đã mở lọ.
Thuốc corticosteroid:
ví dụ dược chất fluticasone propionate, mometasone, budesonide…
Thuốc hỗn hợp: Thường do các hãng dược trong nước sản xuất, pha chế hỗn hợp thuốc corticosteroid, kháng sinh và co mạch với nhau như hadocort (chứa dexamethazone, neomycine và xylomethazoline), cortiphenicol (chứa cloramphenicol và hydrocortisone), nemydexan (chứa neomycine, dexamethazone), collydexa (chứa cloramphenicol, dexamethazone và naphazoline)… Các thuốc này ngoài tác dụng thông mũi thì còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và kháng khuẩn. Tuy nhiên, thuốc cũng gây tác dụng phụ mất tính đàn hồi niêm mạc mũi, quá phát cuốn mũi khi dùng kéo dài nên cũng không dùng thuốc quá 7 ngày trong 1 đợt điều trị.
Khi bị ngạt mũi, bạn nên làm sạch mũi với nước muối sinh lý trước, nếu sau đó mà hết ngạt thì sẽ không còn cần tới thuốc xịt, nhỏ mũi co mạch nữa. Mong rằng mùa hè này bạn sẽ không còn phải lo ngại khi dùng thuốc xịt và nhỏ mũi nữa.
Thuốc hỗn hợp: Thường do các hãng dược trong nước sản xuất, pha chế hỗn hợp thuốc corticosteroid, kháng sinh và co mạch với nhau như hadocort (chứa dexamethazone, neomycine và xylomethazoline), cortiphenicol (chứa cloramphenicol và hydrocortisone), nemydexan (chứa neomycine, dexamethazone), collydexa (chứa cloramphenicol, dexamethazone và naphazoline)… Các thuốc này ngoài tác dụng thông mũi thì còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và kháng khuẩn. Tuy nhiên, thuốc cũng gây tác dụng phụ mất tính đàn hồi niêm mạc mũi, quá phát cuốn mũi khi dùng kéo dài nên cũng không dùng thuốc quá 7 ngày trong 1 đợt điều trị.
Khi bị ngạt mũi, bạn nên làm sạch mũi với nước muối sinh lý trước, nếu sau đó mà hết ngạt thì sẽ không còn cần tới thuốc xịt, nhỏ mũi co mạch nữa. Mong rằng mùa hè này bạn sẽ không còn phải lo ngại khi dùng thuốc xịt và nhỏ mũi nữa.
GIÚP MẸ BỚT BỐI RỐI KHI CHĂM SÓC BÉ SỐT
Trước đây, mỗi lần bé bị sốt cao, các mẹ thường phải canh giấc ngủ đêm cho bé, thậm chí cả nhà phải thay nhau vắt khăn ướt đắp, lau nách, đồng thời phải trông chừng cái khăn cho khỏi rơi. Mỗi một đêm như vậy, sẽ là sự xáo trộn sinh hoạt không chỉ mẹ mà còn cả gia đình.
Nhưng đến nay, khi người ta phát minh ra Miếng dán hạ sốt chỉ việc dán vào trán, thậm chí có thể cắt đôi ra để dán vào nách, bẹn... các mẹ cảm thấy việc chăm sóc bé khi sốt đã nhẹ nhàng hơn hẳn, nhất là vào ban đêm. Để giúp các mẹ hiểu hơn về một số tiêu chí trong chọn lựa Miếng dán hạ sốt, là một dược sĩ, đồng thời cũng là mẹ đang chăm sóc 2 con nhỏ, mình hy vọng thông tin sau đây sẽ giúp ích cho các mẹ nhiều.
Nếu đã đi Nhật, các mẹ có thể thấy Công ty Kobayashi rất nổi tiếng với miếng dán hạ sốt KOOLFEVER, được bán ở hầu hết các cửa hàng ở Nhật và là sản phẩm nổi tiếng số 1 về doanh số bán hàng.
Trong điều trị sốt, yếu tố thời gian đóng vai trò vô cùng quan trọng. Một miếng dán hạ sốt KOOLFEVER có ưu điểm là dùng được ngay mà không cần để lạnh trước. Bỏ lớp nilon trong phía trên bề mặt miếng dán và dán lên vùng da nóng sốt như: trán, nách, bẹn, gáy,…Bé cảm thấy mát ngay tức thì.
Các mẹ cũng biết, khi cho bé uống thuốc hạ sốt như paracetamol, ít nhất phải 30 phút sau thuốc mới phát huy tác dụng tốt nhất, hoặc trong rất nhiều trường hợp khi chưa hết khoảng cách tối thiểu 4-6 tiếng giữa các lần uống thuốc (ví dụ: mới vừa uống thuốc được 2 tiếng), mà bé đã bị sốt lại, nhiều mẹ rất lo lắng. Trong trường hợp này, miếng dán hạ sốt KOOLFEVER dùng kết hợp dán ngoài da sẽ là giải pháp tối ưu. Điều này tốt cho bé hơn vì KOOLFEVER (chỉ là gel chứa nước) không chứa thuốc và nó sẽ giúp bé thoải mái, đỡ bứt rứt khó chịu trong người hơn.
Khi bị ốm, cũng giống như bạn thôi, bé rất sợ những gì có mùi khó chịu, hoặc đôi khi mùi tinh dầu càng làm cho bé thấy một cảm giác “nóng bức” hơn. Vì thế, việc lựa chọn sản phẩm (như Miếng dán hạ sốt KOOLFEVER) có mùi thơm dễ chịu là điều nên làm. Hiệu quả hạ sốt phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của lớp gel. Các mẹ quan sát kỹ về độ dày, có nhiều hạt làm mát tròn như những giọt nước nằm trong lớp gel màu xanh. Như vậy, miếng dán sẽ có tác dụng hạ sốt tốt hơn.
Một điều không kém phần quan trọng là cảm giác và sự an toàn của bé. Nếu một miếng dán quá lỏng dễ rơi sẽ không tốt, nhưng quá chặt, sau 8 tiếng khi bóc ra để lại lớp cặn gel trên da, gây đau lại là nỗi sợ hãi của bé. Kobayashi thiết kế Miếng dán hạ sốt KOOLFEVER phù hợp từ kích thước Miếng dán vừa vùng trán và độ dính an toàn với vùng da nhạy cảm của bé.
Các mẹ lưu ý, vì bé bị sốt, ốm thất thường, không biết trước được, nên các mẹ nhớ luôn cẩn thận, trong túi đồ của bé nên dự trữ một số loại chăm sóc sức khỏe cho bé thông thường như thuốc cảm cúm, hạ sốt, siro ho, xịt mũi, miếng dán hạ sốt KOOLFEVER,…Hãy chuẩn bị sẵn sàng cho những lúc cần dùng ngay.
Ngày nay, khi các phương tiện chăm sóc sức khỏe ngày càng tiện ích, đầy đủ đã phần nào bớt đi sự vất vả cho các mẹ trong việc chăm sóc con cái. Nhưng kèm theo đó là các mẹ luôn phải cập nhật thông tin để tránh những bối rối và đắn đo giữa việc chăm sóc trẻ theo kinh nghiệm dân gian hay theo phương pháp khoa học hiện đại. Ngay cả những mẹ đã có kinh nghiệm thì đó cũng không phải là một công việc dễ dàng gì. Hy vọng những thông tin trên đây sẽ giúp các mẹ có căn cứ sử dụng Miếng dán hạ sốt số 1 Nhật Bản - KOOLFEVER dễ dàng và yên tâm hơn.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)














