Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

TẠI SAO CƠN ĐAU TIM VÀ ĐỘT QUỴ LẠI HAY XẢY RA VÀO SÁNG SỚM


Ảnh minh họa
Các nhà khoa học tại Đại học Emory (Hoa kỳ) đã tìm ra lý do tại sao các cơn đau tim và đột quỵ thường hay xẩy ra vào buổi sáng sớm và cho biết thià khoá của vấn đề là nhịp hoạt động hàng ngày của các tế bào tìm thấy trong các mạch máu. Thật vậy, theo các nhà khoa học này thì hoạt động của các tế bào nói trên thấp nhất vào sáng sớm vì vây vào lúc này các mach máu mất nhiều khả năng thư dãn và do đó làm tăng rủi ro bị lên cơn đau tim hay đột quỵ

Một số khoa hoc gia cho rằng các tế bào đươc gọi là endothelial progenitor cells (EPCs) có trong tủy xương giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì lớp phủ bên trong của các mạch máu. Theo các nhà khoa học thì các tế bào EPCs là những tế bào gốc (stem cells) giúp thay thế các tế bào nội mô (endothelial cells) tại những chỗ mà lớp phủ bên trong mạch máu bị tổn thương và tạo ra những mạch máu mới ở những chỗ mà máu không đươc cung ứng đẩy đủ. Tuy nhiên, vai trò này của các EPCs vẫn còn đang đươc tranh cãi sôi nổi, vì nhiểu nhà khoa học khác lại cho rẳng các EPCs không giữ vai trò trực tiếp trong việc duy trỉ sự lành mạnh của các mạch máu mà chỉ hổ trợ các tế bào khác ở gẩn chỗ bị tổn thương hoàn thành chức năng

Muc đích của nhóm nghiên cứu tại Đại học Emory là tìm hiểu xem liệu hoạt động của tế bào và các tính chất của mạch máu có thay đổi trong ngày hay không. Trong nghiên cứu ,các thử nghiệm đã đươc thực hiện trên12 tình nguyện viên, tuổi trung niên, khoẻ mạnh cứ cách 4 tiếng một lần trong suốt thời gian 24 tiếng Kết quả cho thấy là khả năng thư dãn củacác mach máu và khả năng tăng trưởng của EPCs đạt đỉnh cao vào nửa đêm, trong khi số lượng tế bào đạt con số cao nhất lúc 2000. Sau đó thì số đo của cả ba thông số bắt đẩu tụt giảm.

Giáo sư Ibhar Al Mheid trưởng nhóm nghiên cứu nói “ Lớp phủ bên trong các mạch máu hoạt động tốt nhất vào đêm. Chức năng nội mô đặc biệt suy yếu nhất vào buổi sáng sớm” Giáo sư Al Mheid cho biết các kết quả nghiên cứu chứng tỏ là có mối liên hệ giữa sự điều chỉnh và các nhịp thời gian 24 tiếng trong não (circadian rhythms in the brain)

Y tá trưởng Ellen Mason thuộc British Heart Fundation nói “Đã từ lâu chúng tôi đã nhận thấy là số người lên cơn đau tim có cao điểm vào buổi sáng, và các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục t m hiểu thêm về các cơ chế trong cơ thể có thể gây ra điều đó. Điều đươc biết là tất cả chúng ta ai cũng đểu có những nhịp thời gian 24 tiếng, một đổng hồ bên trong cơ thể, và điều này gây nên những biến đổi sinh học của cơ thể chúng ta” Bà cho biết là c n cẩn phải tiếp tục nghiên cứu thêm vì tầm vóc nghiên cứu tại Đại học Emroy còn quá nhỏ.

ĐỪNG COI THƯỜNG NHỮNG CƠN ĐỘT QUỴ NHỎ

Danh từ “ cơn đột qụy nhỏ” (mini stroke) là tên thông thuờng các bác sĩ dùng để nói về cơn thiếu máu cục bộ nhất thời của não (transient ischemic attack- TIA).

Ảnh minh họa
Các cơn đột qụy nhỏ có thể nguy hiểm tới tính mạng. Điều tệ hại là nhiều người bị lên cơn đột qụy như vậy không có đi bác sĩ để đươc trị liệu.( theo tạp chí Stroke thì trong mười người chỉ có một người là đi cấp cứu mà thôi). Khi bị đột qụy nhẹ điều quan trọng là phải đi cấp cứu ngay vì chỉ trong một hay hai ngày sau cơn đột qụy nhẹ TIA một cơn dột qụy nặng sẽ xẩy ra. Bác sĩ Keith Siller thuộc Đai học New York cho biết “ Bệnh nhân cần đươc điều trị cấp thời không phải vì các triệu chứng đã qua mà vì những gì sẽ xẩy ra. Nhiều người không có những triệu chứng của TIA trước khi bị đột qụy nặng, nên có thể nói là bị đột qụy nhẹ trước là một cái may trong cái rủi, bởi vì như thế chúng ta có cơ may ngăn chặn đươc cơn đột qụy mạnh”

Cơn đột qụy nhẹ TIA xẩy ra khi luồng máu tới một phần của não bị nghẽn tạm thời. Khi điều này xẩy ra , các triệu chứng xuất hiện đột ngột và kéo dài từ vài phút tới nhiều giờ.Các triệu chứng gồm có:

-đột nhiên không nói đươc hay không hiểu đươc người khác

-tự nhiên thấy mệt mỏi hoặc mặt ,chân hoặc tay bị tê nhất là chỉ bị phân nửa người

-tự nhiên một hay cả hai mắt bị mờ không nhìn thấy hoặc thị giác thay đổi

-đột nhiên đi lại khó khăn hoặc mất thăng bằng.

Điều không xẩy ra khi lên cơn đột qụy là bệnh nhân không cảm thấy đau đớn. Theo bác sĩ Christian Schumacher thuộc Trung tâm y khoa Montefiore (New York City ) thì “ “người ta thuờng nghĩ rằng khi lên cơn đột qụy(stroke) bệnh nhân phải đau đớn như khi lên cơn đau tim (heart attack)nhưng thật ra trong hầu hết mọi trường hợp đột qụy bệnh nhân không thấy đau đớn gì cả” ,Tuy nhiên bác sĩ Siller cho biết là trong trường hợp đột qụy vì xuất huyết não (hemorrhagic stroke) thì bệnh nhân sẽ đột nhiên bị nhức đầu ghê gớm mà không biết lý do.

Đột qụy vì xuất huyết nảo (đông mạch bị bể) và đột qụy vì thiếu máu cục bộ trong não (cuc đông máu làm nghẹt đọng mạch) 

MỘT SỐ DẤU HIỆU BÁO SỚM CƠN ĐAU TIM




Ảnh minh họa
Tại phòng đợi ởcác bệnh viện đều có dán cáo thị về các dấu hiệu của cơn đau tim (signs of a heart attack), nhưng chúng ta tự hỏi không biết có những dấu hiệu nàobáo sớm cho chúng ta biết là tim chúng ta đang bị trục trặc hay không?

Rất may là trong những năm gần đây các nhà khảo cứu đã phát hiện ra là quà thực có những dấu hiệu và triệu chứng báo cả tháng có khi cả năm trước là một cơn đau tim sẽ xẩy ra . Bác sĩ Jonathan Goldstein, chuyên gia về tim tại Trung tâm Y học St Michael, Newark, New Jersey nói:” Trái tim, cùng với các động mạch nối vào nó, là một bắp thịt lớn, và một khi nó bắt đầu suy yếu thì những triệu chứng có thể xuất hiện ở nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể”. Dưới đây là năm dấu hiệu sớm cho biết là chúng ta cần phải đi bác sĩ kiểm tra lại tim. Bất cứ một trong những dấu hiệu này—và đặc biệt là hai hay nhiều những dấu hiệu này – mà xuất hiện là chúng ta nên gọi lấy hẹn gặp bác sĩ ngay

1- Đau cổ

Bạn cảm thấy bắp thịt ở một bên cổ bị đau rút và triệu chứng này kéo dài lâu không hết. Người ta thường coi thường triệu chứng này, vì nghĩ là nếu bị lên cơn đau tim thì phải đau buốt và ngực, vai cùng cánh tay phải bị tê cứng.

Riêng đối với phụ nữ họ không thấy đau như vậy.mà lại thấy có những cơn đau nhói và có cảm giác như một luồng co thắt (tightness) chạy dọc theo vai và xuống cổ. Cơn đau có thể lan xuống phẩn bên trái cơ thể dọc theo vai trái và cánh tay trái

Lý do Các dây thần kinh của mô cơ tim bị tổn thương chuyển những tín hiệu lên xuống doc theo tủy sống tới c ác mối nối với những dây thần kinh ở cổ và vai

Cách nhân biết- Cái đau toả dài chứ không qui tụ tại môt điểm nhất định. Chườm nước đá , áp nhiệt hay xoa bóp bắp thịt cũng không hết đau.

2- Vấn đề chăn gối (sexual problem)

Thông thường những đàn ông không còn khả năng tình dục đểu mắc bệnh động mạch vành (coronary artery disease) mà không hay biết. Theo một thống kê tại Châu Âu, cứ ba người bị bệnh liệt dương (erectile dysfunction-ED)cả tháng hay cả năm thì có hai người được chẩn đoán là tim có vấn đề. Bác sĩ về tim Golsdtein cho biết các nghiên cứu gần đây đều xác nhận là có sự liên hệ giữa ED và bệnh tim mạch, nên tiêu chuần hiện nay là khi một người than phiền bị ED thì các bác sĩ sẽ phải xét nghiệm toàn bộ hệ tim mạch của bệnh nhân. Ông cho biết “ Trong những năm gần đây, chúng tôi đã thâu lượm đủ bẳng chứng cho thấy những bệnh nhân ED có rủi ro cao bị lên cơn đau tim và bị tử vong”

Lý do Giống như các động mạch quanh tim có thể hẹp lại và cứng ra, các động mach dẫn máu tới dương vật cũng vậy. Vì các động mach ở dương vật nhỏ hơn nên tổn thương xẩy ra sớm hơn nhiều—cả ba hay bốn năm trước khi bệnh tim được phát hiện

Cách nhận biết Trong trường hợp này, nguyên nhân không có thể được phân biệt thấy liền. Vì vậy khi bạn hay đối tác mất khả năng cương dương (erection) thì cẩn được khám nghiệm xem có phải vì bệnh tim mạch hay không

3. Chóng mặt, ngất xỉu hay hơi thở ngắn

Theo một cuộc khảo cứu đăng trên tạp chí Circulation: Journal of the American Heart Association thì 40 phần trăm những phụ nữ có hơi thở ngắn (shortness of breath) nhiều ngày trước khi cơn đau tim ( heart attack) xẩy ra. Bạn có thể cảm thấy khó thở, hoặc thấy chóng mặt hay muốn ngất xỉu, giống như khi ở độ cao. Nếu bạn thở dốc khi lên cầu thang, hút bụi, cắt cỏ hoặc làm những công việc khác mà trước đó không thấy như vậy, thì bạn hãy coi chừng

Lý do- Máu truyển qua các động mạch tới tim không đủ nên tim bị thiếu oxigen. Bệnh động mạch vành (CAD)—do sự tạo thành các mảng làm nghẽn động mach dẫn máu tới tim---ngăn cản không cho tim nhận đủ oxigen. Càm giác đột ngột không thể hít thở xâu được (deep breath) thông thường là dấu hiệu đầu tiên của đau thắt ngực (angina), một dạng đau của các cơ tim

Cách nhận biết - Nếu hơi thở ngắn do bệnh phối, thì triệu chứng này thuờng ra chỉ xuất hiện dần dần theo sự tổn thương của mô phổi do hút thuốc hay do các yếu tố môi trường xung quanh. Còn nếu hơi thở ngắn do bệnh tim hay bệnh tim mạch gây ra thì triệu chứng nàysẽ xẩy ra đột ngột hơn nhiều khi bạn ráng sức vàsẽ biến mất khi bạn nghỉ ngơi

4. Ăn không tiêu, buồn nôn hay ợ nóng ( heartburn)

BỚT ĂN MUỐI CÓ THỂ GIẢM RỦI RO BỊ BỆNH TIM

Người ta đã biết từ lâu là ăn nhiều muối thì áp huyết tăng, mà áp huyết tăng thì nguy-cơ bị lên cơn đau tim hay đột quỵ cũng sẽ tăng. Nhưng chỉ gần đây nhóm nghiên cứu tại bệnh-viện Brigham and Wome’s Hospital, Boston mới dẫn-chứng đươc điều nói trên và đánh-giá mức hại của muối đối với con người.


Ảnh minh họa
Trong nghiên-cứu người ta đã quan-sát 3.126 người có huyết áp ở mức tiền cao-huyết-áp (pre-hypertension).

Các nguời này đều đươc yêu-cầu giảm 25% -35% lượng muối ăn (sodium) từ khoảng 10 g xuống còn lối 7g.

Kết-quả cho thấy là nếu duy-trì mức muối ăn như vậy lâu dài ( khoảng từ 10 đến 15năm) thì rủi- ro bị bệnh tim mạch sẽ gìảm 25% và rủi- ro bị chết về bệnh tim mạch sẽ giảm 20%. 

Giáo-sư Graham MacGregor ,chủ-tịch nhóm Consensus Action Group on Salt, nói “Đây thực là một công-trình nghiên-cứu rất quan-trọng. Kết-quả nghiên-cứu đã chứng-tỏ là bớt lương muối ăn sẽ giảm đươc nhiều trường hợp đau tim, đột-quỵ và suy tim” 

Theo khuyến-cáo của Food Standards Agency thì mức giới-hạn lượng muối ăn như sau:

1 tới 3 tuổi 2g muối một ngày (0,8 g sodium)

4 tới 6 tuổi 3g muối một ngày (1,2 g sodium)

7 tới 10 tuổi 5g muối một ngày (2,0 g sodium)

11 tuổi trở lên 6g muối một ngày (2,5 g sodium)

{6 g muối tương-đương với một muỗng nhỏ muối}

Giáo-sư MacGregor cho biết là đối với phần lớn chúng ta tiêu-chuẩn 6g muối một ngày cũng dễ đạt đuợc nếu chúng ta lưa-chọn cẩn-thận thực-phẩm chúng ta ăn.

Muốn biết lượng muối trong thực-phẩm đóng gói sẵn, chúng ta chỉ cần lấy lượng sodium ghi trên nhãn chỉ-dẫn về dinh-dưỡng dán trên thực phẩm rồi nhân với 2,5. 

Người ta mong rằng các nhà sản-xuất thực-phẩm sẽ hợp-tác trong việc han-chế sử-dụng muối trong các sản-phẩm của họ. Điều này ra vẻ cũng khó vì hiệp-hội Salt Manufacturers Association cho rằng kết-quả nghiên-cứu chỉ có giá-trị đối với những người bị cao huyết-áp mà thôi còn thì giảm lương muối ăn chẳng có lợi gì đáng kể đối với sức khoẻ của đai-chúng. 

NƯỚC ÉP TRÁI NHO CŨNG NGĂN NGỪA BỆNH TIM MẠCH



Ảnh minh họa
Một vài loại nước ép trái nho cũng có tác-dụng bảo-vệ chống bệnh tim mạch như rượu vang đỏ. Bác sĩ Valerie Schini-Kerth thuộc Đai-học Louis Pasteur, Strasbourg (Pháp) cho biết “Trong rượu vang đỏ và một số loai nước ép trái nho có một lương cao polyphenol, chất này có tính-cách ngăn chặn sự tạo-thành một protein có liên-hệ tới bệnh tim mạch” Thật vậy kết-quả nghiên-cứu cho thấy là các polyphenol nói trên kích-thich các tế-bào nội-mô (endothelial cells) sản xuất nitric oxid , chất này có tác dung bảo-vệ chống các bệnh tim mạch và giữ cho các mạch máu và huyết áp được tốt.

Ảnh minh họa
Về rượu vang trong Trung–y Trung -dược có ghi là rượu vang ngâm với hành tây rất tốt cho sức khỏe vì rượu vang có tác dung làm cho mạch máu lưu-thông phòng chống bệnh tim mạch còn hành tây có tác -dung giảm cholesterol và chống ung thư 

Cách làm rất dễ dàng. Lấy 1 đến hai củ hành tây, bỏ lớp vỏ khô bên ngoàì, thái mỗi củ thành 8 miếng như hình trăng lưỡi liềm. Sau đó cho hành vào lọ thủy-tinh rồi đổ nửa lít rượu vào. Đậy cho kín . Sau khi để chỗ mát khoảng 5-8 ngày, mở ra lọc hết bã hành rồi tách riêng hành và rượu để vào tủ lạnh. 

Uống từ 1 đến 2 lần mỗi ngày,mỗi lần khoảng 50 ml (20 ml cho người lớn tuổi). Ăn cả hành đã ngâm rượu thì càng tốt hơn

NĂM THỜI ĐIỂM ĐÁNG SỢ CHO TIM CỦA BẠN

Ảnh minh họa
Bác sĩ tim mạch Arthur Agatston kể lại cho tôi nghe là mổi lẩn gặp bệnh nhân câu hỏi đầu tiên của ông là “Đi đường có kẹt xe không?” Ông giải thích cho tôi là đó không phải là câu hỏi đầu lưỡi mà là một câu hỏi có giá trị y lý. Lý do là vì nếu bị kẹt xe thì áp huyết bệnh nhân sẽ lên cao và rủi ro bị lên cơn đau tim sẽ tăng gấp ba. Vì vậy đối với bệnh nhân này nếu áp huyết đo thấy cao thì ông sẽ chờ một lúc rồi kiểm tra lại . Ngoài ra còn có những tình huống và thời điểm khác cũng làm tăng rủi robị lên cơn đau tim một cách không thể ngờ.Nếu bạn hoặc những người thân của bạn mà có sẵn vấn để về tim mạch thì dưới đây là những lúc cần phải coi chừng

1-Trước tiên là vào mỗi buổi sáng

Các nhà khảo cứu thuộc Đại học Harvard cho biết là nguy cơ bị lên cơn đau tim tăng 40% vào buổi sáng

Khi bạn tỉnh giấc, cơ thể tiết ra chất adrenaline và những hoóc-môn gây căng thẳng (stress hormones) khác làm tăng huyết áp và nhu cầu về oxygen. Ngoài ra máu cũng đặc hơn và khó bơm hơn vì cơ thễ bạn đã bị mất nước một phẩn trong đêm. Tất cả những điều này, tim bạn phải gánh chịu hết

Vì vậy bạn phải biết tự bảo vệ lấy mình. Bạn hãy thu xếp lịch trình sao cho mỗi sáng bạn khởi sự hoat động từ từ. Nếu bạn tập thể dục vào buổi sáng thì bạn phải làm “ấm” toàn thân trước khi tập để tránh cho tim khỏi bị mệt thêm. Và nếu bạn uống thuốc beta-blocker thì nên uống thuốc trước khi đi ngủ ngày hôm trước để cho thuốc có hiệu năng cao nhất vào sáng ngày hôm sau (các chất beta-blocker gồm có acebutolol, betaxolol, bisoprolol, esmolol, propranolol, atenolol, labetalol, carvedilol,metoprolol, và nebivolol.)

Mời bạn đọc thêm bài viềt vể những phương pháp hạ huyết áp một cách tự nhiên: 12 ways to lower your blood pressure naturally.

2- Đặc biệt vào mỗi sáng thứ hai

Lý do khoa học chính đáng để bạn phải thận trọng vào sáng ngày đẩu tuẩn, đó là có thêm 20% trường hợp lên cơn đau tim vào ngày này vỉ người ta bị căng thẳng và trẩm cảm khi nghĩ tới phải trở lại làm việc

PHỤ NỮ VỚI BỆNH TIM MẠCH




Ảnh minh họa
Trong tiềm thức quần-chúng, các bệnh tim mạch là bệnh của đàn ông. Chính bản-thân các phụ-nữ cũng không ý-thức đươc nguy-hiểm họ đang gặp. Thật vậy theo báo cáo mới đây của hãng Pfizer thì mỗi năm trên thế giới có một phần ba phụ-nữ chết vì bệnh tim mach so với một trên 25 phụ-nữ bị chết vì ung-thư vú.

Theo thống-kê, có 8,5 triệu phụ-nữ chết vì bệnh tim mạch mỗi năm trên toàn thế- giới và 3 triệu chết vì tai-biến mạch máu não. 

Giáo sư Tbassome Simon đã khuyến cáo như sau” trong bước đầu chúng ta cần phải giáo-dục các phụ-nữ và khuyến-khích họ theo dõi đều đặn lương cholesterol và áp-huyết…” 

Mặt khác bác-sĩ Michèle Lachowsky xác-định như sau “Phòng ngừa là vai-trò của bác-sĩ phụ-khoa chúng tôi. Thật vậy,chúng tôi là bạn đồng-hành của các phụ-nữ trong suốt các chặng đường đời của họ. Chúng tôi có những ràng buôc đăc biệt với nhau từ viên thuôc ngừa thai đầu tiên đến sau thời-kỳ mãn kinh.

Vì vậy các bệnh tim mạch đương-nhiên sẽ đươc chúng tôi quan-tâm đến như việc dò tìm bệnh ung-thư vậy” 

Bác-sĩ Catherine Baulac thuộc hãng Pfizer nói thêm”Mặc dầu các phụ-nữ đựơc che-chở bởi cac hoóc-môn estrogen vào thời-kỳ truớc khi mãn-kinh, nhưng về sau họ cũng chiụ cùng một rủi-ro mắc bệnh tim mạch như nam giới. Hiện-tương này có lẽ xẩy ra trong vòng 20 năm trở lại đây nay do những yếu-tố rủi- ro mới như hút thuốc lá, bệnh mập phì…, 

Tại Gia-nã-đại, tổ-chức Fondation des Maladies du Coeur nhấn mạnh tầm quan-trọng của phòng ngừa bệnh “Không bao giờ trễ khi làm việc tốt. Dù bạn già hay trẻ, hãy chiụ khó rèn luyện cơ-thể, tránh hút thuôc và giảm cân dù ít cũng đươc để hạ huyếp áp, lượng đường và cholesterol trong máu. Như thế bạn sẽ bớt rủi-ro bị bênh tim mạch và tai-biến mạch máu não và có thể hưởng một đời sống dài lành- manh năng-động.” 





DẤU HIỆU BỆNH TIM THƯỜNG GẶP, NHƯNG ÍT NGỜ

Bệnh tim thường uy hiếp tính mạng con người một cách đột ngột và nắm được các biểu hiện trước khi phát bệnh sẽ giúp giảm đáng kể các biến chứng. Các nhà khoa học đã tổng kết và đưa ra 6 dấu hiệu đáng lưu ý của bệnh tim mà ít người biết đến.

1. Thở dốc

Các bệnh về tim mạch thường gây ra cảm giác đuối hơi, khó thở, đôi khi chỉ cần nghỉ ngơi chốc lát là có thể trở lại bình thường. Tuy nhiên, chỉ cần vận động nhẹ là tình trạng thở dốc lại tái phát. Triệu chứng này thường gặp ở người già nên nhiều người dễ ngộ nhận đây là bệnh tuổi già mà không hề biết rằng đó là biểu hiện của bệnh tim.

2. Đau hàm dưới

Nếu bạn thường xuyên gặp phải những cơn đau ở hai bên hàm dưới, có lúc ở vùng cổ… thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Chớ nên chủ quan coi đó là chứng mệt mỏi thông thường.

3. Đau cánh tay

Biểu hiện rõ nhất của bệnh tim là hiện tượng đau cánh tay trái. Trường hợp bị bệnh nặng, cơn đau sẽ lan truyền sang cả cánh tay phải. Biểu hiện chung chỉ là đau đơn thuần, không xác định được vị trí chính xác, tuy nhiên, bạn vẫn cần hết sức cảnh giác.

4. Tiêu hoá kém
Ảnh  minh họa


Triệu chứng này thường bị nhầm lẫn với bệnh đau dạ dày nên nhiều người không để ý đến

Triệu chứng này thường bị nhầm lẫn với bệnh đau dạ dày nên nhiều người không để ý đến. Những cơn đau dạ dày do bệnh tim gây ra thường rất ít khi đau thắt hoặc đau dữ dội mà chỉ thấy đầy bụng, ngột ngạt, hơi có cảm giác nóng rát và buồn nôn. Đây là biểu hiện đặc trưng của bệnh mạch vành, chủ yếu là do vách sau của tim bị tổn thương, động mạch vành bên phải bị nhồi tắc, truyền tới dây thần kinh nối liền với dạ dày và gây ra những triệu chứng ở dạ dày như đã nói trên. Nhìn chung, những người ưa vận động mạnh cần lưu ý tới những triệu chứng này.

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

KỸ THUẬT KÉO XƯƠNG CHẬU TRONG ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM VÙNG THẰT LƯNG

Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) thắt lưng là một bệnh phổ biến hiện nay trong các loại bệnh đưa đến đau lưng . Đây là một loại bệnh làm mất khả năng lao động rất nhiều. Phần lớn bệnh nhân trong độ tuổi lao động bị TVĐĐ thắt lưng.
Ảnh minh họa

Dấu hiệu của bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng

+ Đau vùng thắt lưng và đau thần kinh toạ. Triệu chứng từ nhẹ đến nặng.

+ Đau mỏi thắt lưng

+ Đau mông có thể lan ra háng. Lan xuống mặt sau đùi, bắp chân, bàn chân.

- Tê chân, cảmgiác kiến bò, cảm giác nóng rát chân.

- Bắt đầu teo cơ tứ đầu đùi (quadriceps), cơ bắp chuối (Gastroenemius).

- Liệt nhẹ chân.

- Các dấu hiệu dương tính: Lasèque (+). Déjerine (+). Sonnette (+). Test passiveextension (+)... góp phần xác định chẩn đoán. Ngoài ra, các xét nghiệm cận lâm sàng giúp chẩn đoán chính xác, nhất là MRI.

* Điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm

Như báo "Sức Khỏe & Đời Sống" số 76 đã đăng "điều trị đau lưng tại nhà" của BS Phan Hữu Phước. Ngoìa ra các bài tập làm mạnh cơ bụng, cơ lưng, kéo dãn cơ lưng, cơ Hamstrings (cơ ba đầu đùi),... vật lý trị liệu còn có kỹ thuật kéo xương chậu (Pelvic Traction) rất quan trọng cho việc phục hồi bệnh nhân bị TVĐĐ thắt lưng. Trọng lượng kéo thay đổi tùy theo tuổi, bệnh lý (tim mạch, loãng xương,...), tình trạng co cứng cơ duỗi lưng, thể lực của bệnh nhân,...

Thông thường bắt đầu kéo xương chậu từ 1/3 trọng lượng cơ thể và tăng dần từ từ đến 1/2 trong lượng cơ thể là tối đa. Dưới 1/4 trọng lượng cơ thể sẽ không có giá trị phục hồi.

* Mục đích kéo xương chậu:


Tứ thế bệnh nhân: nằm ngửa, hông và gối được nâng đỡ ở tư thế gập, sẽ có những ưu dđiểm sau:

- Giảm sức ép lên các đĩa đệm vùng thắt lưng, do cơ hông thăn (psoas) ở tư thế dãn, nghỉ.

- Giảm sức ăng lên dây thần kinh tọa.

- Tứ thế dễ chịu, giu1p bệnh nhân thư giãn.

BỆNH GOUT

Hỏi: Tôi bị bệnh gout, liệu có thể uống Allopurinol 300mg liên tục hàng năm được không (1 viên/ngày) và thuốc có tác dụng phụ gì?
Ngoài ra thuốc Nam, thuốc Bắc có chữa được bệnh gout không? Nếu không thì cần điều trị loại thuốc nào và nên mua ở đâu?


(Nguyễn Hữu Đ. - Hà Nội)
Ảnh minh họa

Trả lời: Allopurinol là thuốc có tác dụng ngăn ngừa sự tổng hợp acid uric trong cơ thể (bệnh gout là bệnh có sự tăng acid uric trong máu đưa đến đọng tinh thể urat ở khớp gây đau). Allopurinol không được dùng trong cơn gout cấp tính (điều trị cấp phải dùng Colchicin hoặc Indomethacin) mà chỉ để ngừa, kiểm soát sự tăng acid uric - huyết hoặc được chỉ định đặc biệt trong trường hợp bị sỏi niệu (sỏi urat) hay bị bệnh thận do urat. Tác dụng phụ của Allopurinol: rối loạn tiêu hóa, chóng mặt, nhức đầu, dị ứng, rụng tóc, độc hại đối với gan, phát ban sốt. Điều trị bằng Allopurinol có thể lâu dài, tuy nhiên đối với trường hợp của ông, nên hỏi bác sĩ đã trực tiếp điều trị cho ông về việc dùng thuốc như thế nào để phòng ngừa cơn gout là tốt nhất.

Trong ăn uống, người bị gout nên kiêng ăn các loại thực phẩm chứa nhiều Purin (Purin vào trong cơ thể sẽ chuyển hóa thành acid uric làm tăng acid uric - huyết) như gan, thận, óc, cá biển loại béo (như cá mòi). Hạn chế uống rượu, bia, nên uống nhiều nước (hơn 2 lít mỗi ngày). Hiện nay chưa có loại thuốc Nam, thuốc Bắc nào có thể chữa khỏi hẳn bệnh gout.

CHỮA THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM BẰNG LASER

Ảnh minh họa


Laser được dùng để chữa bệnh thoát vị đĩa đệm lần đầu tiên vào năm 1987 hai bác sĩ Hoa Kỳ là Choy và Ascher thực hiện. Người ta cho rằng sau khi dùng laser đốt cháy một phần đĩa đệm, áp lực trong đĩa đệm giảm xuống làm cho khối thoát vị nhỏ lại, không còn chèn ép để gây đau nữa. Phương pháp này gọi là PLDD, (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Percutaneous Laser Disc Decompression, nghĩa là giảm áp lực của đĩa đệm bằng laser xuyên qua da). Trong thập kỉ 90 của thế kỉ 20, PLDD phát triển rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt là ở các nước tiên tiến. Gần đây, do sự phát triển mạnh của các phương pháp nội soi, đặc biệt là phương pháp nội soi Yeung, sự ưa thích PLDD đã giảm xuống ở Hoa Kỳ và một số nước phát triển khác.

Nhiều công trình nghiên cứu của các bác sĩ nổi tiếng trên thế giới chứng minh rằng PLDD là phương pháp chữa bệnh rất tốt. Tuy nhiên, việc quyết định người bệnh nào có thể được chữa bằng PLDD và đặc biệt là kỹ thuật làm PLDD quyết định khả năng thành công. Phía sau của đĩa đệm có một dây chằng gọi là dây chằng dọc sau. Nếu đĩa đệm thoát vị còn chưa xé rách dây chằng dọc sau thì PLDD mới có hiệu quả, còn nếu dây chằng dọc sau của bạn đã bị rách thì tốt nhất tìm một cách chữa bệnh khác. Việc nhận biết khối thoát vị đã xé rách dây chằng dọc sau hay chưa không phải là dễ dàng. Việc này đòi hỏi phải có những bác sĩ vừa có kinh nghiệm trong việc khám chữa bệnh thoát vị đĩa đệm, vừa có kinh nghiệm với PLDD.

Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng PLDD đơn giản, ít đau đớn, không cần gây mê, người bệnh tiết kiệm được rất nhiều thời gian, đặc biệt là không phải nằm viện. So với mổ hở, biến chứng của PLDD ít gặp hơn rất nhiều và thường cũng không nặng nề. Các biến chứng chung cho tất cả các loại thủ thuật như phản ứng với thuốc tê, chảy máu hoặc nhiễm trùng chỗ đâm kim rất hiếm gặp, tỷ lệ giống như ở các thủ thuật có tiêm chích khác. Đôi khi bệnh nhân đau tăng lên đột ngột trong lúc làm PLDD do khi đĩa đệm bị đốt cháy, khói chưa kịp thoát ra làm cho khối thoát vị to thêm gây chèn ép nhiều hơn. Nếu chọn lựa đúng bệnh nhân để làm PLDD và kỹ thuật thực hiện tốt thì tỷ lệ này chỉ khoảng 1 trên 1.000 trường hợp.

Các phương pháp LPDD và những hạn chế

Tuy nhiên, PLDD cũng có một số nhược điểm nhất định. Đây là một phương pháp kén chọn bệnh nhân và thật ra thì nhiều trường hợp được điều trị bằng PLDD cũng vẫn còn có thể chữa được bằng thuốc và vật lý trị liệu. Ở những trường hợp này, PLDD giúp rút ngắn thời gian điều trị, tăng khả năng chữa hết bệnh và đặc biệt là giảm số lượng thuốc đưa vào cơ thể bạn, tức là giúp bạn làm giảm đi các chất độc trong cơ thể mình. Khả năng chữa hết bệnh của PLDD mặc dù cao hơn nhiều so với chữa bằng thuốc và vật lý trị liệu nhưng lại thấp hơn so với mổ hở hoặc nội soi. Nhiều người bệnh chọn PLDD thay cho việc uống thuốc và tập vật lý trị liệu dài ngày. Một số người bệnh nhờ PLDD mà tránh phải mổ hở. Ngoài ra một số người bệnh chọn PLDD mặc dù biết rằng đối với loại thoát vị đĩa đệm mà họ có thì khả năng chữa hết bệnh bằng PLDD rất thấp nhưng họ vẫn hy vọng là nếu may mắn họ sẽ không phải mổ hở. Hơn nữa thì sau khi làm PLDD, việc mổ hở (nếu cần thiết) sẽ dễ dàng hơn và khả năng biến chứng sẽ ít hơn.

Trên bàn mổ người bệnh nằm nghiêng nếu làm PLDD ở lưng hoặc nằm ngửa nếu làm PLDD ở cổ. Sau khi sát trùng, bác sĩ sẽ xác định nơi chích kim trên máy chiếu X-quang. Sau khi gây tê xong, một cây kim sẽ được chích từ ngoài da vào đĩa đệm. Một sợi dây bằng thủy tinh nối với máy phát laser được luồn qua kim tới đĩa đệm. Laser sẽ đốt cháy một phần đĩa đệm. Khi đốt, người bệnh sẽ có cảm giác nóng và tức nhẹ ở nơi đốt, gần cuối sẽ có cảm giác nóng chạy dọc theo tay hoặc chân. Toàn bộ thời gian làm PLDD khoảng 15 phút cho một đĩa đệm. Sau khi xong, người bệnh nằm nghỉ khoảng 1-2 giờ và về nhà ngay trong ngày. Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi làm PLDD, một số người bệnh bị đau do quá trình viêm gây ra, sau khi dùng thuốc sẽ hết. Thường thì sau một tuần người bệnh có thể đi làm lại được nhưng phải 3 tháng sau mới có thể đánh giá được chính xác kết quả của PLDD.

Nhiều người bệnh e ngại laser và tia X từ máy chiếu X-quang khi làm PLDD gây hại cho cơ thể. Nếu laser được sử dụng đúng cách và có bảo hiểm tốt cho đôi mắt thì được coi là vô hại. Còn tia X thì thật sự có hại, nhưng bạn hãy yên tâm, mặc dù được cái áo giáp che chở nhưng những người trực tiếp làm PLDD cho bạn sau một thời gian sẽ lãnh lượng tia X cao gấp nhiều lần mà bạn phải hấp thụ sau một lần nằm trên bàn mổ. Và nếu họ vẫn còn đủ khả năng làm PLDD cho bạn thì có nghĩa là lượng tia X mà bạn nhận chưa đủ để gây ra chuyện gì cả. 

CHỨNG ĐAU LƯNG NGUYÊN NHÂN, CÁCH PHÒNG VÀ CHỮA TRỊ

Đau lưng là một hội chứng có nhiều nguyên nhân

Nếu đau lưng phía trên kèm theo tức ngực, có ho kéo dài với sốt nhẹ, người bệnh sút cân kéo dài đó là dấu hiệu thường gặp trong bệnh lao. Đau lưng ở vùng giữa, hay gặp ở người trẻ tuổi, đặc biệt thấy xương sống có chỗ gồ lên, có thể là lao cột sống. Đau lưng ở đoạn dưới và đau nhiều sau khi mang vác nặng có thể do bong gân, giãn dây chằng. Đau lưng nhiều ở đoạn cuối, xuất hiện một cách đột ngột khi nâng vật nặng hoặc khi vặn mình là nguyên do thoát vị đĩa đệm. Đặc biệt đau vùng thắt lưng kèm theo một bên đùi hoặc bàn chân thấy đau, tê và yếu có thể do dây thần kinh bị kẹt hoặc gai đôi. Ở những người có tác phong đứng ngồi sai tư thế để cho hai vai thõng xuống cũng là 1 nguyên nhân gây ra đau lưng.
Ảnh minh họa

Người có tuổi bị đau lưng lâu năm, kèm thêm làm việc chóng mệt, hay tối sầm mặt mày đó là dấu hiệu của bệnh thoái hóa cột sống, gây hội chứng thiếu máu não. Phụ nữ trong kỳ có kinh hoặc có thai thường đau ở vùng thắt lưng là chuyện bình thường. Ngoài ra các bệnh nhiễm trùng đường ruột, ở thận, niệu quản, bàng quang người bệnh cũng cảm thấy đau lưng cấp hoặc mãn.

Do tính chất phức tạp và nhiều nguyên nhân có thể gây ra đau lưng. Vì vậy khi bị đau lưng chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân để có cách phòng và chữa hiệu nghiệm.

Cách chữa trị

Đau lưng do lao, do nhiễm trùng đường tiết niệu, đường mật thì cần phải chữa nguyên nhân. Đau lưng thường, kể cả đau lưng ở phụ nữ có thai có thể chữa bằng cách sửa lại thói quen đứng, ngồi thẳng lưng hoặc nằm trên phản, giường cứng, không nằm đệm hoặc võng, thường xuyên tập luyện hoặc dùng châm cứu, bấm huyệt. Trường hợp đau lưng do giãn dây chằng hoặc nghi trượt đĩa đệm cần để người bệnh nằm ngửa, bất động trong vài ngày, nên kê đệm ở chỗ khoeo chân và lưng, nên dùng các thuốc giảm đau uống kèm theo đắp khăn nóng.

Trong vài ngày nếu đau lưng không đỡ bạn nên đến phòng khám bệnh chuyên khoa để được khám và điều trị đặc hiệu.

TÌM HIỂU VỀ QUẢ ÓC CHÓ

Ảnh minh họa

 Quả óc chó được phát triển trong môi trường tự nhiên khí hậu tuyệt vời, đất đai màu mỡ, thảm thực vật tươi tốt, là một trong những loại hạt được nuôi dưỡng bởi thực phẩm cây xanh thiên nhiên mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kì sự ô nhiễm nào, do đó quả óc chó được coi là thực phẩm tinh khiết đến từ thiên nhiên. Đây là 1 loại quả quý hiếm có tác dụng tuyệt vời cho não bộ và có khả năng chống lại nhiều bệnh.
Quả óc chó có chứa nhiều axit béo Omega-3, chất xơ, chất chống Oxy hóa, vitamin B, vitamin E, magiê, protein, cung cấp 7 loại axit amin thiết yếu cho cơ thể và chúng đều là những axit béo không bão hòa, những thành phần này là một nguyên tố quan trọng trong sự trao đổi chất của mô não, nuôi dưỡng các tế bào não và làm tăng cường chức năng não, giúp tăng trí nhớ và cải thiện khả năng nhận thức. Ngoài ra nó còn bao gồm 22 loại khoáng chất vô cùng phong phú trong đó phải kể đến những khoáng chất đóng vai trò quan trọng đối với cơ thể là canxi, magiê, phốt pho, kẽm và sắt.
Các tác dụng của quả óc chó
1. Quả óc chó rất tốt với phụ nữ có thai và em bé

Quả óc chó giúp phụ nữ có thai bổ sung Omega-3, Vitamin E, phốt pho và Axit Amin L-Arginne. Đặc biệt hàm lượng Omega-3 trong quả óc chó lớn hơn 3 lần trong cá hồi, giúp thúc đẩy sự phát triển đại não của thai nhi và trẻ nhỏ. Nếu các mẹ kiên trì ăn quả óc chó trong suốt thời gian thai kỳ, em bé sinh ra sẽ rất thông minh khỏe mạnh. Ngoài ra, phụ nữ khi ăn quả óc chó sẽ có làn da mịn màng, tươi trẻ, giúp lưu thông mạch máu và chống lão hóa. Một nghiên cứu mới đây cũng đã chỉ ra rằng quả óc chó cũng có thể chống lại các bệnh viêm nhiễm, đặc biệt là những căn bệnh tế nhị ở vùng kín của chị em phụ nữ. Dùng quả óc chó trong một thời gian dài nhất định sẽ giảm thiểu đáng kể bệnh viêm nhiễm phụ khoa, u xơ tử cung, ung thư cổ tử cung và các bệnh liên quan v.v.., từ đó chị em có thể phần nào bớt đi nỗi lo sợ về những căn bệnh ám ảnh này. Ngoài ra đối với các bạn nữ muốn có vòng 2 hoàn hảo, hãy ăn nhiều món này nhé, nó được coi là loại quả tự nhiên có khả năng giảm béo tốt nhất nữa đấy.
2. Quả óc chó giúp tăng khả năng làm cha

Trong một nghiên cứu mới đây của tạp chí “Biology of Reproduction” đã chứng minh rằng ăn 75 gram quả óc chó (khoảng 2,5 oz) một ngày sẽ cải thiện sức khỏe của tinh trùng, tăng sức sống, khả năng di chuyển cũng như cân bằng hình thái của tinh trùng. Đây là loại quả duy nhất có chứa Alpha-Linolenic Acid (ALA), Axit béo Omega-3 có nguồn gốc thực vật , giúp giảm bớt thể dị bội (là những tế bào có nhiễm sắc thể bất thường, dễ gây ra các triệu chứng như bệnh Down), cung cấp các dinh dưỡng quan trọng và thiết yếu cho sức khỏe sinh sản của nam giới.
3. Ăn quả óc chó thường xuyên để có trái tim khỏe mạnh

Quả óc chó có rất nhiều lợi ích đối với trái tim và hiệu quả hơn bất kỳ loại quả nào khác trên trái đất. Trong quả óc chó có chứa chất chống Oxy hóa Polyphenol giúp ngăn ngừa các cục máu đông. Khi Polyphenol kết hợp với Omega-3, chất xơ, các loại vitamin và khoáng chất sẽ giúp cơ thể loại trừ Cholesterol, một trong những tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe hệ tim mạch. Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công bố: quả óc chó là thực phẩm thiết yếu cho trái tim và nên được bổ sung vào chế độ ăn uống hàng ngày để có trái tim khỏe mạnh.

4. Quả óc chó giúp cải thiện giấc ngủ

Cơ thể con người sinh một loại hormone gọi là Melatonin, chúng có trách nhiệm cho một số chức năng trong cơ thể, trong đó có liên quan đến mất ngủ. Melatonin sẽ cung cấp những tín hiệu não, thông báo với não bộ rằng công việc đã được thực hiện đủ, cơ thể đang mệt mỏi và cần một giấc ngủ. Do đó, cơ thể thường tiết ra melatonin vào khoảng thời gian tương tự mà bạn ngủ mỗi đêm. Nhưng khi con người già đi, hàm lượng melatonin sản xuất bởi cơ thể giảm đáng kể. Đây là lý do giải thích nguyên nhân rất nhiều người cao tuổi mắc chứng mất ngủ và thường chỉ ngủ khoảng 4-5 tiếng một đêm. Quả óc chó là một nguồn dinh dưỡng tự nhiên và cung cấp phong phú chất melatonin. Vì vậy nhấm nháp vài quả óc chó trước khi đi ngủ là cách hữu hiệu để bạn tránh hiện tượng mất ngủ.
5. Quả óc chó rất có lợi đối với bệnh nhân bị tiểu đường

GIẢM NGUY XƠ VỠ VƯỠ ĐỘNG MẠCH VÀ CÁC BIẾN CHỨNG

Ảnh minh họa
(Womega)-Xơ vữa động mạch (xơ cứng động mạch) là một căn bệnh phát triển từ từ mà trong đó các động mạch bị tắc nghẽn và cứng lại. Đây là nguyên nhân gây ra gần 75% các ca tử vong liên quan đến tim mạch. Các nghiên cứu khoa học cho thấy vitamin K2 và ca cao có hiệu quả ngăn ngừa các mảng xơ vữa đồng thời làm tăng độ đàn hồi cho mạch máu, giúp giảm nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim. 

Mối nguy được tích lũy hàng ngày

Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng xơ vữa động mạch bắt đầu từ một chấn thương trong cùng của động mạch (nội mạc). Theo thời gian, chất béo, cholesterol xấu, canxi và các chất khác cũng tích tụ ở lòng thành mạch, thu hẹp đường lưu thông của mạch máu. Mạch máu mất đi độ đàn hồi, trở nên cứng hơn và dẫn đến bệnh tim mạch, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở những người ở độ tuổi trung niên trở lên.

Xơ vữa động mạch gây ra các ảnh hưởng khác nhau dựa vào mức độ thu hẹp và độ cứng của các mảng bám. Nếu các động mạch đưa máu đến tim bị ảnh hưởng thì sẽ gây ra bệnh động mạch vành, đau ngực hoặc đau tim. Nếu động mạch não bị xơ vữa thì sẽ gây thiếu máu cục bộ thoáng qua hoặc đột quỵ. Nếu động mạch ở cánh tay hoặc chân bị ảnh hưởng thì sẽ phát triển thành bệnh động mạch ngoại biên.

Người bị xơ vữa động mạch không có bất cứ triệu chứng nào cho đến khi động mạch bị tắc 40%. Các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm đau ngực, bụng, lưng, cánh tay, khó thở, thiếu máu cục bộ thoáng qua và đột quỵ.
Phòng chống xơ vữa động mạch bằng vitamin K2, vitamin D3 và ca cao

Các nghiên cứu y học cho thấy không ai có thể loại trừ hoàn toàn xơ vữa động mạch, tuy nhiên để phòng chống thì cần phải thực hiện được hai vấn đề là ức chế sự vôi hóa hình thành các mảng xơ vữa và làm cho thành mạch dẻo dai hơn.

Khoa học đã phát hiện vitamin K2 (thuộc nhóm vitamin K, đạt giải Nobel Y học và Sinh Lý học), vitamin D3 và ca cao có hiệu quả làm giảm xơ vữa động mạch, với hiệu quả độc đáo của từng thành phần:

- Vitamin K2 có chức năng điều hòa canxi, sẽ gắn canxi vào đúng vị trí của nó là ở xương và không cho canxi lắng đọng vào thành mạch, ngăn ngừa vôi hóa.

- Omega-3 chống xơ vữa động mạch, ngăn ngừa tắc nghẽn mạch máu, giảm cao huyết áp, giảm mỡ trong máu.
- Vitamin D3 có tác dụng cải thiện chức năng của tế bào nội mô mạch máu làm giảm nguy cơ xơ vữa mạch máu.
- Ca cao có chất flavonoid giúp duy trì tính đàn hồi của mạch máu, bảo vệ thành mạch, chống oxi hóa và giảm cao huyết áp.

Vitamin K2, omega-3 kết hợp cùng ca cao, vitamin D3 và Cardiolina (chiết xuất từ tảo Spirulina) tạo thành công thức độc đáo trong viên uống Womega, giúp giảm nguy cơ xơ vữa động mạch, cao huyết áp, mỡ máu cao. Đặc biệt, sự kết hợp “5 trong 1” sẽ khuếch đại tác dụng của từng thành phần hơn việc sử dụng riêng lẻ, giúp bảo vệ hệ tim mạch hiệu quả hơn.

NHỮNG THỰC PHẨM TỐT VÀ KHÔNG TỐT CHO TRÁI TIM CỦA BẠN



- Dưới đây là 5 loại thực phẩm có lợi và 5 loại thực phẩm có hại cho trái tim của bạn.

Nhồi máu cơ tim là một trong những hậu quả xấu nhất của các bệnh về tim. Những bệnh về tim cũng là nguyên nhân gây tử vong cao ở con người. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến mắc một số bệnh về tim như việc hấp thụ quá nhiều natri, chất béo bão hòa hay chế độ ăn giàu calo. Chính vì vậy, để giữ cho trái tim luôn khỏe mạnh thì chế độ ăn uống đóng một vai trò rất quan trọng.

Những thực phẩm có hàm lượng natri cao có thể làm tăng huyết áp cũng như nguy cơ đột quỵ và đau tìm. Nhiều người trong số chúng ta tiêu thụ lượng muối nhiều hơn là cơ thể cần. Nhiều bằng chúng cũng chứng minh rằng, thức ăn thực vật đặc biệt là các loại hạt và ngũ cốc, đậu, trái cây cũng như rau có thể làm giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim.

Dưới đây là 5 loại thực phẩm có lợi và 5 loại thực phẩm có hại cho trái tim của bạn. Đầu tiên, cùng điểm qua 5 loại thực phẩm tốt cho trái tim.

1. Chuối

Một quả chuối mỗi ngày cung cấp cho bạn 600mg kali, chất có tác dụng làm giảm huyết áp. Bạn có thể ăn chuối vào mỗi buổi sáng với những cách chế biến sáng tạo. Bạn cũng có thể thay thế chuối bằng một số trái cây có hàm lượng kali cao khác như cam, quýt hay dưa hấu đỏ.

Ảnh minh họa
2. Protein từ đậu nành

Đậu nành là loại hạt giàu protein, khoáng chất, vitamin, và các axit béo omega-3. Protein trong đậu có thể thay thế cho hàm lượng chất này có trong các loại thịt động vật mà cơ thể cần. Ngoài ra, trong loại hạt phổ biến này còn có hàm lượng chất xơ cao và chất béo ít hơn so với các loại thịt.

Ở những người có lượng cholesterol cao, hàm lượng protein từ đậu lành được kết hợp với một chế độ ăn ít chất béo sẽ làm giảm cholesterol.

3. Bột yến mạch

Bột yến mạch giúp làm giảm lượng cholesterol và giúp đào thải nó ra khỏi máu. Loại thực phẩm này cũng cung cấp nhiều vitamin B và chất xơ. Bột yến mạch cũng có khá nhiều cách chế biến và sử dụng khác nhau trong khẩu phần ăn.

4. Rau có lá màu

Việc ăn cải xoăn, cải củ Thụy Sĩ, cải xoong... có thể giúp cho bạn có một trái tim khỏe mạnh. Những loại rau trên là nguồn cung cấp chất chống oxy hóa, canxi, và ngăn ngừa sự tích tụ mảng bám ở động mạch. Rau lá xanh cũng là một nguồn cung cấp omega-3 tuyệt vời.

5. Trà

Trà chứa chất chống oxy hóa giúp bảo vệ động mạch của bạn khỏi thương tích và có mức huyết áp thấp hơn. Việc uống ít nhất 2 tách trà mỗi ngày có thể làm giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ, giảm thời gian phục hồi cho những người bị nhồi máu cơ tim.

Ảnh minh họa
Tuy nhiên, bạn cũng nên tránh 5 loại thực phẩm sau đây để bảo vệ trái tim của mình

1. Đường

Bạn nên tránh một chế độ ăn có quá nhiều đường. Nếu bạn tiêu thụ quá nhiều đường không chỉ có thể khiến bạn mắc bệnh tiểu đường mà còn cả bệnh tim. Bạn nên ăn những đồ ăn ít đường và giảm đến mức tối thiểu lượng đường trong khẩu phần ăn. Bạn cũng nên thay thế những sản phẩm khác thay thế đường.

2. Chất béo bão hòa và chất béo dạng trans

Điều bạn cần làm là hạn chế lượng chất béo, đặc biệt là chất béo bão hòa và trans. Đây là các loại chất béo có thể gây ra mức cholesteron "xấu" cho cơ thể của bạn dẫn đến động mạch bị tắc, cũng như các bệnh tim mạch khác. Cụ thể, một số loại thực phẩm chứa nhiều các chất trên là dầu cọ, dầu dừa, sữa, thịt, da của gia cầm, thực phẩm chiên, bơ...

3. Thực phẩm có hàm lượng natri cao

Lượng natri cao có thể làm tăng huyến áp và điều này thực sự không tốt cho trái tim. Những thực phẩm có hàm lượng natri cao, đặc biệt là muối ăn có thể khiến nguy cơ đột quỵ và đau tim tăng cao.

4. Sản phẩm phụ của động vật

Hầu hết các sản phẩm từ sữa chứa nhiều chất béo và nên được hạn chế tiêu tụ. Thực phẩm nên tránh sữa nguyên chất, phô mai, kem và bơ. Bạn cũng nên tránh uống cà phê mà pha quá nhiều sữa hay kem.

5. Thịt chế biến sẵn

Ảnh minh họa
Nhiều loại thịt được con người dùng nitrit, muối hoặc chất bảo quản để bảo quản sau khi được chế biến. Nghiên cứu cho thấy những loại thực phẩm này không tốt cho trái tim của bạn. Một số loại thực phẩm từ thịt này là xúc xích, thịt xông khói, thịt nguội...

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ THƯỜNG GẶP Ở BỆNH TIM MẠCH

Bệnh tim mạch đã và đang là vấn đề sức khỏe rất được quan tâm trên thế giới, tỷ lệ tử vong và di chứng do bệnh tim mạch vẫn chiếm hàng đầu và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Theo Trung tâm thống kê sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ, hơn 68 triệu người dân nước này đang có ít nhất một rối loạn về tim mạch và rất nhiều người khác được cho là có nguy cơ mắc một trong những bệnh lý nguy hiểm này. Tại Việt Nam, điều tra gần đây có tới trên 20% số người lớn bị tăng huyết áp. Kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch là vô cùng quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch.

Cholesterol máu cao - một nguyên nhân gây bệnh tim mạch

Thế nào là yếu tố nguy cơ? Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng mắc bệnh tim mạch. Vậy, yếu tố nguy cơ của tim mạch bao gồm:

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được

Tuổi: Hơn nửa số người bị đột quỵ tim mạch và tới 4/5 số người bị chết vì đột quỵ có tuổi cao hơn 65.

Cố nhiên là bạn không thể giảm bớt tuổi đời của mình được nhưng việc ăn uống điều độ và sinh hoạt hợp lý có thể giúp làm chậm lại quá trình thoái hoá do tuổi tác gây ra.

Giới: Đàn ông có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đột qụy và các bệnh tim mạch khác cao hơn so với nữ giới. Hiện nay, tuổi thọ của phụ nữ nói chung cao hơn nam giới trung bình 4 - 6 năm.

Yếu tố di truyền: Nếu trong gia đình bạn có người mắc bệnh tim mạch khi còn trẻ (nam dưới 55 tuổi và nữ dưới 65 tuổi), bạn phải đặc biệt lưu ý tới việc làm giảm ảnh hưởng của bất kì yếu tố nguy cơ nào có thể kiểm soát được và phải cảnh giác hơn để tránh được cơn đau tim hoặc đột qụy.

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được

Tăng huyết áp: Tăng huyết áp được xác định nếu con số huyết áp luôn vượt quá 140/90mmHg.

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy, điều trị thành công tăng huyết áp làm giảm rõ rệt các nguy cơ của nó. May mắn thay, hiện tại chúng ta đang có rất nhiều thuốc hạ huyết áp tốt, dễ dàng dung nạp và dùng được lâu dài.

Tăng cholesterol trong máu và các rối loạn lipid liên quan: Tăng hàm lượng các chất mỡ trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp. Các nghiên cứu cho thấy, nồng độ cholesterol toàn phần trong máu là yếu tố dự báo mạnh về nguy cơ mắc bệnh mạch vành và đột qụy. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính.

Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol trong đó được nghiên cứu nhiều nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Nồng độ LDL-C trên 3,0mmol/dl là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ bạn. Hàm lượng HDL-C trong máu càng cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng thấp (tối thiểu cũng phải cao hơn 1,0mmol/dl).

CÁC BIỂU HIỆN THƯỜNG GẶP CỦA BỆNH TIM MẠCH

Việc phát hiện sớm bệnh tim mạch có vai trò hết sức quan trọng giúp ngăn ngừa hoặc giảm bớt các tai biến chết người của nó. 


Sơ đồ tim mạch
Ðồng thời còn đem lại cho chúng ta cơ hội sớm được tiếp cận các phương pháp điều trị mới để có thể đạt kết quả chữa bệnh tốt nhất. Dưới đây là các biểu hiện cần được chú ý.

Khó thở

Khó thở do bệnh tim mạch thường xuất hiện khi khả năng bơm máu của quả tim bị suy yếu hoặc có sự cản trở trên đường dòng máu chảy từ quả tim vào các mạch máu. 

Khi sức bơm máu của quả tim giảm xuống sẽ gây ra khó thở do ứ trệ máu và dịch, điều này dẫn tới sự gia tăng áp lực máu ở phổi gây rò rỉ dịch vào các phế nang (túi khí nhỏ ở phổi).

Khó thở đột ngột về đêm là cơn khó thở xuất hiện khoảng vài giờ sau khi bạn đi ngủ, là hậu quả của lượng dịch tích tụ ở hai chân chúng ta ban ngày thấm trở lại dòng máu khi bạn nghỉ ngơi vào ban đêm. Hiện tượng này làm tăng gánh nặng cho quả tim và tăng áp lực máu ở phổi gây cơn khó thở.

Ðau ngực
Nhồi máu cơ tim hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định xảy ra khi một trong các nhánh của động mạch vành bị lấp tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn. 

Triệu chứng đau ngực trong nhồi máu cơ tim cũng có tính chất giống như cơn đau thắt ngực nhưng kéo dài hơn (>20 phút) và không thuyên giảm khi ta nghỉ ngơi và khi bệnh nhân dùng một số thuốc giãn mạch. 

   


CÁC BỆNH TIM MẠCH THƯỜNG GẶP




Ảnh minh họa
Đó là các bệnh: mạch vành, tai biến mạch máu não... Hiểu rõ về chúng, chúng ta có thể có biện pháp phòng ngừa hoặc điều trị kịp thời.

Bệnh mạch vành

Các triệu chứng ban đầu của bệnh động mạch vành nhiều khi rất mơ hồ, thường là bằng những cảm giác nặng ngực hay cơn đau thắt ngực bên trái. Trong chuyên môn còn gọi là cơn đau thắt ngực không ổn định. Cơn đau xuất hiện khi xúc động, gắng sức và thường xuất hiện vào buổi sáng. Có thể kèm theo cao huyết áp gây nhức đầu, chóng mặt, cảm giác khó thở.

Tần suất các cơn đau ngày càng tăng và cường độ cơn đau càng ngày càng nặng và có thể đưa đến nhồi máu cơ tim cấp nếu không được điều trị đúng và kịp thời. Tỉ lệ tử vong trong nhồi máu cơ tim cấp khá cao, nhất là trong hoàn cảnh khả năng cấp cứu về tim mạch của nhiều bệnh viện ở Việt Nam còn nhiều hạn chế do thiếu nhân lực, trang thiết bị và việc vận chuyển bệnh nhân từ nơi ở đến bệnh viện cấp cứu còn nhiều hạn chế. 

Bệnh tuy khá nặng, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được. Nhưng phải ngòng từ khi còn nhỏ, tức là ở tuổi thanh niên. Không nên ăn quá nhiều chất béo, chất ngọt, giữ cho cơ thể một thể trạng lý tưởng, rèn luyện thể dục thể thao, không hút thuốc lá, không ăn quá mặn. Nhất là giữ cho mình một tâm hồn tươi trẻ không quá lo lắng, tránh mọi thứ stress trong cuộc sống.

Những người có yếu tố nguy cơ cao như gia đình có người bị nhồi máu cơ tim, béo phì, đái tháo đường, cao huyết áp, xơ vữa động mạch… rất cần đi khám bệnh định kỳ và điều trị tốt các bệnh nền để tránh nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp

Tai biến mạch máu não

Não là một trong những cơ quan nhận máu nhiều của hệ tuần hoàn và các tế bào thần kinh là những tế bào nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy nhất. Chỉ cần thiếu oxy 5 phút là các tế bào não sẽ chết và không có khả năng hồi phục.

Các thể bệnh tai biến mạch máu não hay gặp nhất còn gọi là đột quỵ bào gồm: co thắt mạch máu não, thiếu máu não thoáng qua, nhồi máu não, vỡ mạch máu não… Và nặng nhất là xuất huyết ồ ạt gây ngập não thất làm cho bệnh nhân tử vong trong vòng 1 - 2 giờ đồng hồ.

Các dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là bệnh nhân bị đau đầu dữ dội, chóng mặt, tay chân yếu hoặc liệt và đi vào hôn mê. Khả năng phục hồi của bệnh nhân phụ thuộc nhiều vào thể tai biến. Ở những thể nặng, bệnh nhân hôn mê sâu tỉ lệ tử vong lên đến trên 50%.

Việc đề phòng quan trọng nhất là phải phát hiện sớm bệnh cao huyết áp và tình trạng xơ vữa động mạch, để điều trị tốt. Cần phải thận trọng với những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao như tuổi trên 50, béo phì, hút thuốc lá, đái tháo đường…

Bệnh động mạch ngoại biên

Động mạch ngoại vi là hệ thống gồm rất nhiều động mạch vừa và nhỏ, có nhiệm vụ đưa máu từ tim đi nuôi các bộ phận của cơ thể. Đặc biệt là tứ chi. Động mạch bao gồm 3 lớp: lớp áo ngoài, lớp áo giữa và lớp nội mạc. Bệnh viêm tắc động mạch ngoại vi có hai thể: bệnh Buerger là tình trạng viêm của 3 lớp thành động mạch, xảy ra ở những bệnh nhân trẻ, tuổi dưới 40, nghiện thuốc lá nặng. Bệnh kéo dài nhiều năm, nhưng cuối cùng đều phải đoạn chi nhất là chi dưới với tỉ lệ lên đến 95% sau 5 năm mắc bệnh. Bệnh nhân nếu bỏ được thuốc lá tình trạng bệnh sẽ tốt lên nhiều.

Bệnh động mạch ngoại vi thứ hai hay gặp nhất là tình trạng viêm và tắc động mạch do xơ vữa động mạch, xảy ra ở những người bị bệnh cao huyết áp và có rối loạn chuyển hóa mỡ. Tổn thương xảy ra ở lớp nội mạc với những mảng xơ vữa làm hẹp lòng động mạch, gây thiếu máu ngoại vi.

Các triệu chứng ban đầu của bệnh còn khá mơ hồ. Thường thì bắt đầu bằng tình trạng đi lặc cách hồi. Tức là bệnh nhân đi một đoạn vài trăm mét thì đau nhói sau bắp chân, cơn đau khiến bệnh nhân phải ngồi nghỉ khoảng 5 - 10 phút sau hết đau và bệnh nhân có thể đi lại. Các cơn đau ngày càng tăng lên, đến một lúc nào đó bệnh nhân đau ngay cả khi nghỉ ngơi và xuất hiện những vết loét, hoại tử của chi…

Bệnh có thể phòng ngừa được bằng cách không hút thuốc lá, nhất là ở những gia đình đã có người bị bệnh Buerger. Điều trị tốt tình trạng xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa mỡ, chống béo phì và điều trị tốt đái tháo đường nếu có.